Sống Đơn Giản Cho Mình Thanh Thản - Chương 1
Truyện Ngắn Thế Giới Chọn Lọc - Nhiều Tác Giả & Trà Ly (dịch) (1)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 20h:23' 28-04-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 20h:23' 28-04-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
TRUYỆN NGẮN THẾ GIỚI CHỌN LỌC
★
— —
Tác giả: Nhiều tác giả
Người dịch: Trà Ly
NXB Văn Hóa Văn Nghệ TP.HCM
ebook©vctvegroup
CHÂU Á
NGƯỜI KABUL
Rabindranath Tagore (Ấn Độ)
Đứa con gái năm tuổi Sakula của tôi suốt ngày líu lo như khứu. Tôi
tin là con bé sẽ chẳng khi nào trầm lặng, buồn bã được. Mẹ cháu thường
cáu vì điều đó, nhưng tôi thì không. Tôi coi việc Sakula trầm lặng, suy tư là
rất không bình thường và không sao chịu nổi khi nó im lặng, ỉu xìu chẳng
nói năng gì. Vì vậy, hai cha con tôi thường trò chuyện với nhau rất rôm rả.
Chẳng hạn như, sáng hôm đó, trong khi tôi đang viết chương 17 của
một tiểu thuyết mới, Sakula chạy vào phòng, đặt bàn tay nhỏ xíu của cháu
vào tay tôi, nói:
- Ba ơi, Unôsahin bảo, trong đám mây có con voi, khi nó phun nước ra
mũi thì trời mưa đấy, đúng không ba?
Tôi còn đang nghĩ cách trả lời thì con bé lại liến thoắng chuyển sang
chủ đề khác:
- Ba ơi, ba với má quan hệ với nhau thế nào hả ba?
Tôi bất giác lẩm bẩm: “Về mặt pháp lý, má con là người em gái thân
yêu nhất của ba!”, nhưng không nói rõ ra mà ngẩng lên bảo “Con đi chơi
với Unôsahin đi! Ba đang bận mà!”.
Cửa sổ phòng tôi mở ra phố. Thằng bé Unôsahin đang chơi bên ngoài
cửa sổ. Tôi bảo Sakula ra đó chơi. Đang suy nghĩ để viết tiếp, con bé bỗng
chạy đến bên cửa sổ bảo: “Ba ơi, có một người Kabul! Có một người
Kabul đấy!” Tôi nhìn ra cửa sổ, quả nhiên có một người Kabul đang đi tới.
Anh ta mặc bộ trang phục đặc trưng của người Apganistan bẩn thỉu, rộng
thùng thình, quấn chiếc khăn to sụ trên đầu, vai đeo túi xách, tay cầm mấy
hộp nho khô.
Tôi không biết con gái tôi có cảm tưởng gì khi nhìn thấy con người đó,
nhưng con bé bắt đầu kêu lên “A a...”. “Ôi dào, tôi nghĩ, anh ta sắp đến kìa,
chuyện viết lách, hãy dừng lại đã”. Ngay lúc đó, người Kabul ngước mắt
nhìn bọn trẻ khiến con bé sợ hãi bỏ chạy vào nhà với mẹ cháu. Con bé lơ
mơ nghĩ rằng, trong chiếc túi mang trên vai của người đàn ông kia thế nào
cũng có vài ba đứa trẻ như nó. Lúc đó gã tiểu thương kia đã bước vào nhà,
mỉm cười chào tôi.
Dù đang nóng lòng hoàn thành chương 17, nhưng tôi nghĩ, anh ta đã
tới, mình cũng phải dừng công việc lại, mua vài thứ đồ cho anh ta vậy. Tôi
mua vài thứ và bắt đầu nói chuyện với anh ta.
Khi sắp đi ra, người Kabul hỏi:
- Thưa ngài, cô bé vừa rồi đâu ạ?
Tôi nghĩ, con bé Sakula không nên sợ sệt một cách vô cớ như vậy, nên
cho gọi cháu ra. Con bé đứng sát bên tôi nhìn người Kabul và chiếc túi của
anh ta. Anh ta cho con bé mấy quả nho khô, nhưng cháu không nhận, chỉ
càng nép sát vào người tôi, nỗi băn khoăn e ngại của nó càng tăng thêm.
Đó là lần đầu tiên Sakula và người Kabul gặp nhau.
Nhưng chỉ mấy ngày sau, vào một buổi sáng nọ, khi tôi sắp đi ra ngoài
thì tình cờ phát hiện con bé Sakula đang ngồi trên chiếc ghế băng trước
cửa, còn người đàn ông Kabul kia lại ngồi bên chân con bé nói cười rất vui
vẻ. Con bé Sakula xưa nay ngoài tôi ra, chưa bao giờ cháu gặp một ai lại
nhiệt tình, chăm chú nghe cháu nói chuyện như vậy. Trên vạt áo của cháu là
những quả hạnh nhân và nho khô, quà tặng của người Kabul cho con bé.
- Sao anh lại cho con bé những thứ ấy? - Tôi hỏi và đưa cho anh ta
đồng bạc. Anh ta có vẻ không bằng lòng, cầm lấy đồng bạc bỏ vào túi.
Một lát sau khi trở về, tôi nhận ra chính đồng bạc đó đã gây phiền hà
cho con bé. Bởi vì, sau khi anh chàng tiểu thương người Kabul kia cho
Sakula đồng bạc, mẹ cháu đã nhìn thấy, truy hỏi:
- Con lấy đồng bạc đó ở đâu, Sakula?
- Người Kabul cho con đấy mẹ ạ! - Sakula vui vẻ nói.
- Người Kabul cho con ư? - Mẹ con bé sợ hãi kêu lên - Sakula! Sao con
lại nhận tiền của ông ấy hả?
Đúng lúc đó tôi bước vào cửa và cứu con bé một “bàn thua” trông thấy.
Tôi phát hiện ra hai chú cháu không chỉ gặp nhau một hai lần. Người
Kabul dùng trái cây và nho khô, những của “hối lộ” có sức hấp dẫn lớn đối
với bọn trẻ, làm cho con bé từ chỗ sợ hãi lúc đầu, bây giờ lại trở thành bạn
thân của nhau.
Hai chú cháu thường trò chuyện với nhau rất vui. Con bé tỏ ra rất thích
thú khi gặp người Kabul. Sakula thường tươi cười vui vẻ ngồi trước mặt
người Kabul, nhìn thẳng vào anh ta hỏi:
- Người Kabul! Trong túi của chú có những gì thế?
Anh ta thường dùng giọng mũi của người miền núi, đáp:
- Một con voi to tướng!
Con bé cười tít mắt. Người Kabul cũng không muốn bỏ lỡ cơ hội chọc
cười Sakula, bèn hỏi lại:
- Sakula này, bao giờ thì cháu về “công công gia” đấy?
Đối với các cô gái Bangladesh, chuyện về “công công gia” (nhà chồng)
họ đã biết từ nhỏ, nhưng gia đình tôi chưa bao giờ cho cháu biết chuyện
này nên cháu rất mù mờ, song nó không hề để lộ điều đó, lém lỉnh hỏi:
“Thế chú đã đến đó chưa?”.
Mọi người ai cũng biết mấy từ “công công gia” ấy còn có một nghĩa
khác. Đó là cách nói khéo của từ “nhà tù”, một nơi không cần tiêu tốn tiền
bạc vẫn được “chăm sóc” chu đáo. Gã tiểu thương thô lỗ này cho rằng con
gái tôi ám chỉ nơi đó. Gã “hừm” một tiếng và tưởng tượng ra cảnh những
viên cảnh sát thường vung nắm đấm với mọi người, nói to: “Chú sẽ đập
nát cái “công công gia” nhếch nhác ấy!” Nghe gã tiểu thương nói thế,
Sakula cười lên đắc chí. Con bé không hiểu là người bạn lớn của nó cũng
muốn chọc cười nó cho vui.
Những ngày đầu mùa thu là những ngày mà các bậc đế vương thời cổ
đại thường chinh đông phạt bắc; sống ở một góc nhỏ Calcutta này, chẳng
hề đi đâu nhưng đầu óc tôi cũng phiêu diêu khắp thế giới. Chỉ cần nghe tên
một đất nước nào đó là tôi muốn bay tới đó ngay để ngắm cảnh, xem
người. Khi nhìn thấy người Kabul kia tôi như lạc vào cõi thần tiên với
những đỉnh núi trọc, vách núi dựng đứng cao chót vót, những con đường
nhỏ hẹp người chỉ có thể bò qua. Dường như tôi cũng nhìn thấy từng đoàn
lạc đà chở hàng, từng toán thương nhân quấn khăn trên đầu, có người còn
mang theo bên mình những thứ vũ khí cổ quái từ trên núi đi xuống đồng
bằng. Tôi hầu như nhìn thấy... nhưng ngay lúc đó mẹ Sukala bước đến bảo
tôi “Hãy lưu tâm tới con người đó”.
Mẹ Sakula là một người đàn bà cực kỳ nhát gan. Chỉ cần nghe thấy một
âm thanh nào đó trên phố hoặc nhìn thấy có người đi về phía mình là cô ấy
lập tức đoán định rằng họ không thể là ai khác ngoài bọn ăn cướp, bọn say
rượu, rắn độc, hổ báo, sâu bọ hoặc giả là bọn thủy thủ người Anh. Qua
nhiều năm kinh nghiệm cô ấy vẫn không sao xóa được nỗi sợ hãi cố hữu
của mình. Vì vậy, đối với người Kabul này cô rất nghi ngờ, thường nhắc
tôi phải chú ý tới hành động của anh ta. Tôi chỉ cười nhưng cô ấy thì rất
nghiêm túc nêu lên những rủi ro rất có thể xảy ra với con bé khi để nó tiếp
xúc với người Kabul!
Trung tuần tháng giêng hàng năm, Ôsaman, người Kabul đó thường về
nước một lần. Khi sắp lên đường anh ta thường rất bận vì phải đến từng
nhà thu nợ. Nhưng năm nay anh ta vẫn cố dành thời gian đến thăm Sakula
mấy lần trước khi về quê. Hình như hai chú cháu có hẹn với nhau, anh ta
chỉ đến thăm con bé vào buổi tối. Lúc đầu tôi cũng thấy ngài ngại nhưng
về sau cảm giác ấy không còn nữa khi mà bao giờ con gái tôi cũng rất vui
khi gặp người tiểu thương đó.
Một buổi sáng nọ khí trời rất lạnh, tôi đang ngồi trong phòng xem sách,
những tia nắng nhẹ buổi sớm chiếu vào bàn viết lan tỏa lên người tôi khiến
tôi cảm thấy thư thái dễ chịu. Lúc đó khoảng 8 giờ. Đột nhiên tôi nghe có
tiếng cãi vã trên phố, nhìn ra thì thấy Ôsaman bị hai viên cảnh sát áp giải,
đằng sau cả một đám trẻ con bám theo. Trên áo của Ôsaman có mấy vết
máu. Trong tay viên cảnh sát có một con dao nhọn. Tôi chạy ra cửa ngăn họ
lại hỏi xem có chuyện gì xảy ra. Qua sự bàn tán của mọi người tôi biết
Ôsaman cãi nhau với một khách hàng của mình và làm ông ta bị thương.
Lúc này người Kabul đó đang rất bực tức chửi mắng kẻ thù của anh ta. Bất
ngờ, từ ban công nhà tôi Sakula xuất hiện, gọi to “Người Kabul! Người
Kabul!” Khi quay lại nhìn con gái tôi, trên mặt Ôsaman chợt nở một nụ
cười. Hôm nay anh ta không mang theo chiếc túi xách nên hai chú cháu
không nói với nhau về đề tài “con voi” nữa, Sakula hỏi ngay đến chuyện
thứ hai: “Chú đến công công gia chứ?” Ôsaman cười bảo: “Chú đang đến
đó đây, cô bạn nhỏ ạ!”.
Vì bị kết tội mưu sát, Ôsaman bị tuyên án 8 năm tù giam.
Thời gian trôi đi, Ôsaman bị mọi người quên lãng. Chúng tôi vẫn sống
ở đó và làm công việc cũ, rất ít, thậm chí chẳng khi nào nhắc đến người
Kabul đó nữa. Ngay như Sakula cũng dần quên người bạn vong niên của
nó.
Năm tháng qua đi, vào một ngày thu rực rỡ, chúng tôi chuẩn bị đám
cưới cho Sakula.
Sáng tinh mơ hôm đó, mọi người đang tíu tít chuẩn bị cho lễ cưới thì có
một người tiến đến đứng trước mặt tôi, cung kính thi lễ. Thì ra đó là
Ôsaman, người Kabul dạo nào. Lúc đầu tôi không nhận ra anh ta. Anh ta
không mang túi cũng không quấn khăn cao trên đầu và chẳng còn gì là chút
thần khí như trước nữa, nhưng khi anh ta cười thì tôi nhận ra ngay.
- Anh về lúc nào thế Ôsaman? - Tôi hỏi.
- Tối hôm qua - Anh ta đáp - Tôi từ nhà tù đến đây.
Những lời này nghe rất chối tai. Tôi dự cảm đây chẳng phải là điềm
lành, tìm cách từ chối...
- Ở đây đang có chuyện vui. Tôi rất bận. Mấy hôm nữa anh hãy đến
được không?
Ôsaman lập tức quay người bước đi, nhưng anh ta chợt dừng lại trước
cửa, chần chừ một lúc rồi nói:
- Tôi có thể gặp người bạn nhỏ của tôi một lát, được không thưa ngài?
Chỉ một lát thôi mà!
Ôsaman cứ nghĩ Sakula vẫn như xưa nên đã chuẩn bị sẵn một ít nho
khô, đó là những thứ mà một người đồng hương của anh cho anh chứ bản
thân anh thì chẳng còn đồng xu nào để mua sắm nó!
Tôi nói:
- Gia đình chúng tôi đang có chuyện vui. Hôm nay anh không thể gặp ai
ở đây được đâu!
Trên mặt Ôsaman lộ rõ vẻ thất vọng. Anh ta bất mãn nhìn tôi và nói
“Tạm biệt” rồi quay gót.
Tôi cảm thấy mình hơi bất nhẫn, định gọi anh ta lại, không ngờ tự anh
đã quay lại. Anh đến trước mặt tôi, đưa túm nho khô ra, nói: “Thưa ngài!
Tôi mang thứ này đến cho cô bạn bé bỏng của tôi. Ngài có thể thay tôi trao
món quà này cho cháu được không, thưa ngài?”
Tôi nhận lấy túm nho khô, đang định trả tiền thì anh ta nắm lấy tay tôi,
nói:
- Ngài thật nhân từ, thưa ngài! Tôi sẽ nhớ ngài mãi mãi. Ngài không
cần trả tiền cho tôi đâu. Ngài có cô con gái thật đáng yêu, ở quê tôi cũng có
một đứa con gái như vậy. Tôi nhớ cháu quá nên tặng con gái ngài chút quà
này chứ đâu phải cần tiền ạ.
Nói tới đây anh ta thò tay vào túi áo lấy ra một tờ giấy nhỏ, nhàu nhò,
bẩn thỉu, trải ra trên bàn. Trên tờ giấy là một dấu lăn tay nhỏ xíu. Không
phải là ảnh cũng không phải là bức họa, nó chỉ là một dấu lăn tay bằng mực
đen đã phai màu. Anh ta giữ mãi cái dấu lăn tay bé nhỏ của con gái trong 8
năm dằng dặc ngồi tù!
Nước mắt tôi lặng lẽ trào ra. Tôi quên hẳn anh ta chỉ là một tiểu thương
nhập cư nghèo khổ, còn tôi là... mà không, không phải... Liệu tôi có gì đáng
tự hào hơn anh ta? Anh ta cũng là một người cha.
Chính dấu lăn tay của con gái người Kabul đó đã khiến tôi nghĩ tới
Sakula. Tôi liền gọi cháu ra. Mọi người cố ngăn lại nhưng tôi không nghe.
Sakula bước ra phòng khách. Cháu mặc bộ váy áo cưới màu hồng, giữa
trán điểm một nốt son nhựa đàn hương, trang điểm thành cô dâu, e lệ đứng
trước mặt người khách mới tới.
Nhìn cảnh tượng ấy người Kabul lộ rõ vẻ kinh ngạc. Anh ta cảm thấy
không còn tự nhiên như ngày nào với cô bé Sakula bé bỏng nữa. Nhìn
Sakula một hồi lâu, Ôsaman mỉm cười hỏi: “Cô bé ơi, cháu sắp đến công
công gia của cháu phải không nào?”
Hiện tại Sakula đã biết công công gia là thế nào rồi, con bé đỏ mặt, e
thẹn cúi đầu.
Tôi nhớ lại lần gặp nhau đầu tiên giữa con gái tôi và người tiểu thương
Kabul này, cảm thấy buồn buồn. Sau khi Sakula vào nhà trong, Ôsaman
thở dài khe khẽ và ngồi bệt xuống đất. Anh ta chợt nghĩ, suốt 8 năm đằng
đẵng ở trong tù, con gái anh nhất định đã lớn lên, khác trước nhiều lắm,
mà trong ngần ấy thời gian lẽ nào bản thân nó không phát sinh ra biến cố
gì?
Tiếng nhạc của buổi hôn lễ vang lên, những tia nắng vàng ấm áp lan tỏa
khắp nơi, Ôsaman ngồi đây miên man nhớ tới những dãy núi điệp trùng ở
quê nhà...
Tôi đưa cho Ôsaman một tờ ngân phiếu, nói:
- Hãy về quê đi Ôsaman, về với đứa con gái yêu quý của anh đi! Chúc
cho cuộc gặp gỡ giữa hai cha con vui vẻ! Đó chính là hạnh vận mà anh đã
mang lại cho con gái tôi đấy Ôsaman ạ!
Do trích bớt một phần kinh phí cho Ôsaman, hình thức buổi hôn lễ của
Sakula có giảm đi đôi chút. Không còn nhiều đèn điện trang trí nữa, tôi
cũng không thuê đội quân nhạc giúp vui. Cánh phụ nữ trong nhà thất vọng
lắm nhưng tôi lại cảm thấy rất hài lòng: Buổi tiệc thật tuyệt vời, và vinh
hạnh nữa, bởi lẽ, tôi đang nghĩ tới, ở nơi xa xôi kia sẽ có cuộc trùng phùng
cảm động giữa một người cha hết mực yêu thương con với đứa con gái độc
nhất của mình sau tám năm trời xa cách...
CÔ GÁI TRÊN TÀU HỎA
Bangde (Ấn Độ)
Đoàn tàu hỏa bắt đầu chuyển bánh, trong toa chỉ có mỗi một mình tôi.
Cho đến lúc tàu dừng ở ga đầu tiên, mới có thêm một cô gái lên tàu. Hai
ông bà già tiễn cô gái có lẽ là cha mẹ cô thì phải, dường như họ rất không
yên tâm về chuyến đi này của cô. Bà mẹ cứ căn dặn con phải để hành lý
chỗ nào, bất kể trường hợp nào cũng không được thò đầu qua cửa sổ khi
tàu đang chạy, không được bắt chuyện với người lạ, vân vân...
Bởi tôi là người mù nên không sao hình dung được diện mạo của cô
gái, nhưng từ tiếng “lẹt xẹt” phát ra sau mỗi bước chân của cô, tôi nhận ra
cô ấy đi dép lê. Tự nhiên tôi lại thích nghe tiếng cô ấy nói.
Tàu tiếp tục chuyển bánh, tôi hỏi cô gái:
- Cô có đi Dexiladun không?
Có lẽ do tôi ngồi trong một góc tối nên tiếng nói của tôi khiến cô gái
giật mình. Cô bất giác thốt lên khe khẽ: “Tôi không biết là ở đây có
người”.
Đúng vậy. Đôi mắt của những người bình thường đôi khi nhìn sự vật
trước mặt mà không hề thấy gì, chắc hẳn là có lý do, bởi những gì họ cần
nhìn là quá nhiều. Ngược lại, người mù cả hai mắt lại có thể dựa vào cảm
quan để nhận biết sự vật xung quanh.
- Thoạt đầu tôi cũng không trông thấy cô - Tôi nói - Nhưng tôi nghe
thấy cô lên tàu.
Tôi nghĩ, chỉ cần ngồi im chỗ cũ, cô ấy nhất định không phát hiện ra
được tôi là một người mù.
- Em đến Salalanpo thì xuống tàu, - Cô gái nói - Cô em sẽ ra ga đón em.
Thế còn chị, chị đi đàu vậy?
- Tôi đi Dexiladun, sau đó đi tiếp đến Musuli - Tôi đáp.
- Hay quá! Em cũng muốn đi Musuli. Em thích những dãy núi điệp
trùng ở đó, nhất là vào tháng mười.
- Đúng thế. Tháng mười được coi là mùa vàng ở Musuli mà!
Nói ra điều này, trong óc tôi liền hiện ra cảnh sắc tuyệt vời mà tôi từng
nhìn thấy trước khi bị hỏng mắt. Và, tôi thốt lên thành lời, chia sẻ niềm vui
với cô gái mới gặp: “Những thảm hoa hướng dương vàng rực ngập tràn
các triền núi. Không khí se se lạnh. Đêm đến, ngồi bên đống lửa uống một
chút rượu brandy, bao nhiêu du khách dù đã đi xa vẫn không sao quên được
chuyến du lịch đầy quyến rũ đến nơi này!”
Cô gái im lặng không nói gì, phải chăng cô cũng cảm động bởi những
gì tôi nói, hay là cô chỉ coi tôi là một người quảng giao có nhiều thiện cảm?
Đoạn, tôi buột miệng hỏi một câu thật khờ khạo:
- Bên ngoài trời thế nào hả cô?
Hình như cô gái không chú ý lắm tới câu hỏi của tôi. Lẽ nào cô đã phát
hiện ra tôi là một kẻ mù lòa? Tuy nhiên, một câu nói của cô đã giúp tôi lập
tức xóa đi sự nghi ngờ của mình, cảm thấy yên tâm hơn:
- Chị nhìn qua cửa sổ, chẳng phải là biết ngay sao? - Giọng nói của cô
thật tự nhiên, dễ chịu!
Tôi men theo băng ghế ngồi đến cạnh cửa sổ toa tàu, ngồi xuống, làm
như là đang thưởng thức phong cảnh bên ngoài. Trong trí tưởng tượng của
tôi, những dãy cột điện hai bên đường lùi nhanh về phía sau.
- Chị nhìn thấy chưa? - Cô gái hỏi.
Tôi chầm chậm đáp:
- Cây cối chuyển động còn chúng ta thì lại đứng yên.
- Đúng như vậy đấy - Cô gái phụ họa.
Rồi cả hai lại im lặng một hồi lâu. Tôi lên tiếng trước:
- Chị thấy em có một khuôn mặt rất ưa nhìn, em gái ạ - Tôi thân mật
nói. Tôi không sợ cô gái giận, bởi tôi biết con gái rất ít người không thích
được khen!
Cô gái bật cười, tiếng cười trong veo như tiếng chuông ngân.
- Chị nói thế làm em buồn đấy. Ai cũng bảo em đẹp, nghe mãi đâm
chán!
Nói vậy, chắc cô ta đẹp lắm! Tôi thầm nghĩ và nói luôn:
- Thì đúng thế còn gì? Khuôn mặt ưa nhìn thì đương nhiên là đẹp rồi!
- Chị thật biết cách làm cho người khác vui đấy nhỉ! Cô gái nói Nhưng làm sao chị biết được điều đó?
- Tàu sắp đến ga rồi. Cho tôi xin lỗi vì đã đường đột làm cho cô mất
vui!
- Cám ơn trời đất! May mà đường không đến nỗi xa lắm! Nếu phải
ngồi tàu thêm vài ba tiếng nữa, chắc chín nhừ người ra mất!
Lạ thế! Chỉ cần nghe giọng nói của cô ấy, tôi ngồi tàu mấy tiếng cũng
chẳng sao! Giọng nói của cô gái vừa réo rắt, vừa dịu dàng êm ái, có sức lôi
cuốn lạ lùng. Tôi nghĩ, chỉ cần xuống tàu là cô ấy có thể quên cuộc gặp gỡ
ngắn ngủi này, nhưng tôi thì không.
Tiếng còi tàu vang lên một hồi dài. Đoàn tàu từ từ chạy chậm lại. Cô
gái đứng lên thu dọn hành lý. Tôi không biết là cô ấy vấn tóc, hay để tóc
xõa ngang vai? Có lẽ là cắt tóc ngắn.
Đoàn tàu từ từ vào ga. Mùi nước hoa thoang thoảng từ mái tóc cô gái.
Tôi muốn đưa tay vuốt tóc cô nhưng cô đã bước đi, chỉ vương lại một chút
hương thơm dịu nhẹ.
Sân ga ồn ào hẳn lên. Một chàng trai hấp tấp bước lên tàu rồi đóng
sầm cửa khoang tàu lại. Tôi trở về chỗ ngồi. Còi tàu vang lên, đoàn tàu
tiếp tục chuyển bánh.
Tàu chạy mỗi lúc một nhanh, bánh xe rít trên đường sắt dập dình tạo
nên một tiết tấu vui tai. Tôi dò dẫm đến bên cửa sổ, ngồi xuống nhìn ra
ngoài. Chắc trời đã sáng, nhưng với tôi thì vẫn chỉ là đêm đen. Lúc này tôi
lại có một bạn đồng hành mới, có thể sẽ có tiết mục mới đây.
- Xin lỗi! Cô gái vừa xuống tàu là gì với chị? Thực tình mà nói, tôi
không tưởng tượng nổi vì sao cô ấy lại hấp dẫn đến thế? - Chàng trai có vẻ
ngượng ngùng nói.
- Cô gái ấy rất có ý tứ, lại rất dễ thương! - Tôi nói - Anh có thể nói cho
tôi biết tóc cô ấy dài hay ngắn không?
- Tôi không chú ý lắm - Anh chàng dường như có vẻ khó hiểu trước
câu hỏi của tôi - Nhưng tôi lại rất chú ý tới đôi mắt của cô ấy, đôi mắt thật
dài, thật đẹp... tiếc là... nó chẳng có tác dụng gì đối với cô ấy cả. Cô ấy bị
mù, chị không nhận ra sao?
TRĂNG KHUYẾT
Yuanni (Indonesia)
Sáng sớm, ra đi từ thị trấn, ngồi ô tô suốt tám tiếng đồng hồ, cô mới
đến nơi, bấy giờ trời đã về chiều. Ráng chiều đỏ sẫm bao phủ cả bầu trời
như một tấm võng cực lớn vây hãm cô. Toàn thân cô rã rời, mệt mỏi, lòng
đầy thấp thỏm lo âu, lủi thủi bước đi trong ánh chiều tà. Cô mong cho con
đường cứ dài ra mãi để cô không bao giờ tỉnh mộng!
Cô vừa đi vừa tự hỏi: Đi? Không đi? Trong sự dằn vặt vật vã ấy, ngôi
nhà đầy ám khí như bị bóng đè kia đột nhiên hiện ra trước mặt. Cô chần
chừ dừng lại trước cửa. Cánh cửa bỗng lặng lẽ mở ra không có lấy một
tiếng động. Một người đàn ông còn khá trẻ và rất đẹp trai đứng đó, đôi mắt
đen nhánh, sâu thăm thẳm. Đôi mắt ấy, trong phút chốc dậy lên những đợt
sóng lừng ào ạt úp chụp xuống người cô! Nhìn vào đôi mắt ấy, trước mắt
cô bỗng tối sầm lại, cô lảo đảo như sắp ngã. Người đàn ông đưa tay đỡ cô
lại, nhưng cô giãy nảy lên như chạm phải bỏng, đẩy vội anh ta ra. Người
anh ta cứng đờ như bị giội chậu nước lạnh. Khi trấn tĩnh lại, những đợt
sóng lừng trong mắt anh ta trở nên yên tĩnh và bình thản. “Từ xa anh đã
nhìn thấy em tới nên ra mở cửa cho em - Người đàn ông bình tĩnh nói - Em
vào nhà đi!”.
Cô lặng lẽ bước theo anh ta vào nhà, đứng lại sau khuôn cửa. Một thứ
mùi quen thuộc xộc vào mũi khiến cô bất giác hít một hơi dài, đưa mắt
nhìn bộ bàn ghế quen thuộc. Con búp bê bằng sứ và chiếc hộp nhạc hình
đàn dương cầm trong tủ đựng đồ trang sức vẫn nguyên chỗ cũ, tự nhiên hai
dòng nước mắt cô ứa ra lăn dài trên má. Đây đã từng là nhà của cô!
Lúc này cô trở thành một người khách đang ngồi nghiêm trang trên bộ
sofa, nhìn lướt khắp gian phòng. Trong phòng chỗ nào cũng có ảnh của mẹ,
người trong ảnh được tạo dáng theo nhiều kiểu khác nhau như một minh
tinh màn bạc, trông thật chối mắt! “Ngày trước mình có cảm giác đó
không?” - Cô tự hỏi. Người mẹ xinh đẹp của cô sinh cô vào năm mới hơn
mười sáu tuổi, sau đó ly dị chồng. Cô sống với mẹ. Dạo đó bạn trai của mẹ
ẳ
cô nhiều như cá ấn trên sông, cô chẳng quan tâm, chỉ chuyên chú vào việc
học hành.
Người đàn ông đem cốc nước trà đặt trước mặt cô, do dự một chút rồi
ngồi xuống phía đối diện, nhìn cô chăm chăm với thần thái của một người
có bao điều muốn nói mà chưa nói được! Cô cũng nhìn anh ta, sóng lòng
từng đợt từng đợt cuộn trào mãnh liệt, dội mãi vào thân đê đã có chỗ rạn
vỡ của cô. Hai người đắm đuối nhìn nhau trong khoảnh khắc, chợt bàng
hoàng nhận ra giữa họ lúc này cách nhau thăm thẳm như trong buổi hồng
hoang mờ mịt của đất trời!
Cô im lặng hồi lâu, cảm thấy như có vô số những ánh mắt nhìn xoáy
vào hai người. Cô ngẩng lên tìm kiếm nơi phát ra những ánh nhìn ấy - đó
chính là những bức ảnh của mẹ cô trên tường! Cô hận nụ cười và ánh mắt
ấy biết bao! Người đàn ông cũng nhìn những bức ảnh trên tường, và,
không hẹn mà gặp, cả hai cùng thốt lên “Sao lại như thế được?”. Nói xong,
họ lại trầm ngâm như trước.
Rất lâu sau cô hỏi:
- Mẹ đâu? Mẹ thế nào rồi?
Người đàn ông im lặng một lát mới lên tiếng:
- Biết em thế nào cũng về, bà ấy đi chợ rồi.
Cô nhìn người đàn ông tỏ vẻ nghi ngờ, đoạn lẩm bẩm:
- Bà ấy lại lừa em rồi, lừa em nữa rồi! Chắc chắn bà ấy không hề bị xe
tông!
Cô vụt đứng dậy, mặt đỏ bừng, gằn giọng: “Em về đây!”
Nói xong cô hấp tấp bước ra cửa, bị vấp vào ngạch cửa, suýt ngã. Cô
đứng thẳng lại, ngẩng đầu nhìn lên bức ảnh cưới được phóng to treo bên
phải cửa chính, trong đó cô dâu có nụ cười tươi rói. Nhìn cô dâu trong ảnh,
nước mắt cô ngầng ngậng lưng tròng rồi ràn rụa trào ra lăn dài trên má. Đó
phải là mình chứ? Sao lại là bà ấy - là mẹ mình? Trái tim cô như gào lên,
khổ đau cùng cực!
Hồi ấy mẹ rất quan tâm tới cô. Thư từ qua lại giữa cô và bạn trai, cô
đều đưa cho mẹ xem. Mẹ cô yêu mến và khen ngợi bạn trai cô hết lời, giục
hai người nhanh chóng kết hôn. Bà còn hứa sẽ lo tiệc cưới cho hai người
thật chu đáo!...
Trước hôn lễ một tuần, mẹ nói với cô, theo phong tục, trong thời gian
này hai người không được phép gặp nhau, cô phải về quê nghỉ ngơi, bồi bổ
sức khỏe, đợi đến hôm đó bà sẽ cho người về đón. Cô tin theo lời mẹ.
Chồng chưa cưới của cô là một chàng trai mồ côi cả cha lẫn mẹ, lúc đó
lại đang làm việc ở xa, hôn sự hoàn toàn trông cậy vào gia đình vợ. Đến
ngày cử hành hôn lễ, khi mở tấm khăn che mặt của cô dâu anh mới nhận ra
rằng cô dâu đã bị đánh tráo! Bà bảo với anh rằng, con gái bà đang ốm, bà
phải tạm thời thay thế. Anh ta tin ngay. Nhưng rồi trong đêm đó bà đã dụ
dỗ được anh ta! Mãi cho đến lúc cô dâu thật biết được chân tướng, tất cả
đều đã muộn!
Nghẹn ngào, rơm rớm nước mắt, đôi bàn tay của người đàn ông đặt
nhẹ lên vai cô. Qua làn nước mắt, cô nhìn vào mặt anh ta, nức nở:
- Em về đây làm gì chứ? Chẳng lẽ chỉ để gọi anh một tiếng “cha”?
Người đàn ông giật nẩy mình, đau khổ quay mặt đi, nước mắt rơi lã
chã, đôi tay đặt trên vai cô bất chợt rung lên dữ dội! Cô gỡ đôi tay ấy khỏi
vai mình.
Ngoài cửa, ráng chiều đã tắt, bầu trời tối sẫm lại. Đêm không sao,
không trăng. Đèn đường bắt đầu bật sáng. Cô chầm chậm bước đi, rồi
bước đi nhanh hơn, và chạy. Người đàn ông gọi theo, càng gọi cô càng
chạy nhanh hơn. Âm vang của tiếng gọi cứ nhỏ dần, nhỏ dần rồi tắt hẳn.
Vừa hay bóng đêm đen thẫm đã cùng lúc chôn vùi cả nỗi khổ đau và dĩ
vãng của hai người!
LA SINH MÔN
Akutagawa Ryunosuke (Nhật Bản)
Chạng vạng tối, có một gã nô bộc trú mưa tại La Sinh Môn.
Bên dưới cổng thành rộng lớn, ngoài hắn ra chẳng còn ai khác, chỉ thấy
một chú dế đang ngồi chồm chỗm trên đầu một cây trụ tròn to sơn son
thếp vàng đã tróc lở loang lổ. La Sinh Môn tọa lạc trên đại lộ Chu Tước
vốn không thiếu khách bộ hành nam thanh nữ tú diện nón lá, mũ mềm trú
mưa ở đó, nhưng hiện tại chỉ có mỗi một mình gã nô bộc hết thời ở đấy mà
thôi.
Vì sao lại như vậy? Vì rằng mấy năm trở lại đây liên tiếp gặp phải
những trận động đất, gió bão, hỏa hoạn nặng nề, mất mùa đói kém liên
miên, kinh thành vô cùng thê lương hoang vắng. Theo những gì còn ghi
chép lại từ thời ấy, hồi đó có những tượng phật bằng gỗ, những hoành phi
câu đối sơn son thếp vàng bị đập vỡ mang ra bỏ bên đường để bán làm củi.
Tình cảnh ở kinh thành như thế nên việc tu sửa La Sinh Môn đương nhiên
là chẳng ai quản nữa. Trong khung cảnh thê lương hoang phế đó, lũ chồn
cáo và bọn gian manh cướp bóc thừa cơ tìm đến nơi này trú ngụ. Về sau,
thậm chí đã thành thói quen, những xác chết vô chủ cũng bị đem vứt ở đó.
Vì vậy, khi mặt trời vừa lặn, không khí nơi đây vô cùng ảm đạm, chẳng ai
dám đến đây nữa.
Vậy mà, chẳng biết từ đâu, hàng đàn quạ đen lũ lượt kéo đến. Ban ngày
chúng lượn lờ trên không om sòm táo tác. Ban đêm chúng đậu la liệt trên
đỉnh lầu cổng thành. Đương nhiên là lũ quạ tụ tập tới đây để ăn xác người
chết, chúng thải ra những bãi phân lốm đốm trắng khắp nơi. Gã nô bộc
mặc chiếc áo khoác quý đã lâu không giặt, đặt đít ngồi lên bậc thềm cao
nhất trên chiếc cầu thang bảy bậc, tay mân mê vết loét trên má phải, mù
mờ vô thức chờ mưa tạnh.
Gã nô bộc trú mưa? Đúng vậy. Nhưng cơn mưa tạnh đã lâu mà gã vẫn
ngồi im tại chỗ. Đúng ra là gã phải về nhà người chủ cũ, tuy nhiên, cách
đây bốn năm hôm, ông chủ cũ đã cho gã thôi việc. Như trên đã nói, lúc bấy
giờ kinh thành rất tiêu điều, cho nên việc gã nô bộc bị lão chủ nhiều năm
nay cho thôi việc cũng là điều dễ hiểu, nó chẳng khác nào dư ba của một
cơn sóng lớn mới tràn qua! Chuyện trú mưa của gã nô bộc thực ra chỉ là
một cái cớ. Gã chẳng biết phải đi đâu. Mà thời tiết hôm nay càng làm cho
gã u sầu, buồn thảm. Cơn mưa từ đầu giờ thân tới giờ dậu vẫn chưa dứt
hẳn. Gã nô bộc vẫn không thôi suy nghĩ xem ngày mai sẽ sống thế nào?
Tiếng mưa rơi trên đại lộ Chu Tước vẫn đều đều vọng đến tai gã.
Mưa vẫn rơi rào rào trên La Sinh Môn. Từng đám mây đen nặng trĩu
bay xiên trên đỉnh lầu cổng thành.
“Phải tìm cách gì để sống chứ, nếu không thì chết đói mất?”; “Bới
đống rác rưởi có lẫn xác chết tìm cái ăn ư?, ghê rợn quá!”; “Hay là... đi ăn
cướp? Nhưng liệu mình có dám làm?”. Gã hắt xì hơi một tràng dài rồi đờ
đẫn bước đi. Màn đêm đã kịp phủ xuống nơi cổng thành, từng luồng gió
lạnh buốt thổi thốc tới không chút nể nang khách khí khiến cho gã nô bộc
run lên. Con dế trên cây trụ cổng đã biến mất tự bao giờ.
Gã nô bộc rụt cổ lại, kéo vạt áo khoác phủ qua vai, nhìn ngó mông lung
dường như muốn tìm lấy một nơi kín đáo vừa để tránh gió vừa không bị ai
nhòm ngó, có thể yên tĩnh ngủ qua đêm. Gã chợt phát hiện ra thang gác dẫn
lên lầu cũng sơn son thếp vàng và khá rộng rãi. Nhìn lên lầu thấy có mấy
người nhưng họ đều đã chết. Gã đưa tay sờ vào thanh gươm giắt bên lưng,
nhấc chân với chiếc giày cỏ đặt lên bậc cuối của cầu thang.
Một lát sau, gã nô bộc nhìn thấy ở khoảng giữa cầu thang có một người
co rúm tựa một con mèo đang lấm lét nhìn quanh. Dưới ánh lửa lúc mờ lúc
tỏ gã nhìn thấy một người đàn ông với chòm râu ngắn ngủn và một vết loét
to bên má phải, đương nhiên đó cũng là một xác chết. Lên thêm mấy bậc
nữa gã nô bộc nhìn thấy một người đang đốt lửa, ánh lửa chập chờn lay
động làm ánh lên mơ hồ mấy tấm mạng nhện giăng trên trần lầu. Gã hiểu
rất rõ, kẻ đốt lên ngọn lửa kia dứt khoát không thể là một người tầm
thường.
Gã nô bộc như một con thạch sùng chợt đứng khựng lại, hiểu ra rằng
chẳng hề dễ dàng chút nào để bước tới bậc cao nhất của cầu thang, liền áp
sát người xuống thấp, vươn cổ ra thận trọng nhìn lên lầu. Ở đó đang có
mấy thi thể bỏ ngổn ngang, bừa bãi. Ánh lửa yếu ớt, bập bùng đủ để nhìn
thấy những xác người cả nam lẫn nữ trần truồng, còm nhom, rách rưới.
Những thi thể này chẳng có vẻ gì là những người đã từng sống, nó giống
những con tò he hơn, há hốc mồm, thè lưỡi, tay dang ra nằm sõng soài trên
đất.
Mùi hôi thối xộc lên nồng nặc từ đám xác chết khiến gã nô bộc phải bịt
mũi lại. Nhưng ngay lúc đó gã đột nhiên giật nẩy mình không còn cảm thấy
hôi thối nữa: ngồi xổm trong đống xác chết là một người đàn bà già nua
vừa lùn vừa ốm trông như một con khỉ mặc chiếc áo màu cọ xám. Tay phải
mụ ta cầm cây đuốc bằng cành tùng đang cháy, mắt chăm chăm nhìn vào
mặt người chết bên cạnh, một người có mái tóc đẹp, hình như là một cô
gái.
Gã nô bộc vừa hoảng sợ vừa hiếu kỳ, bị kích động quá mạnh khiến cho
tim gã như ngừng đập. Quả như người xưa nói, gã sợ đến sởn tóc gáy! Mụ
già bỏ cây đuốc xuống nền nhà, hai tay nâng đầu người đàn bà đã chết,
và... giống như khỉ mẹ bắt chấy cho khỉ con, mụ nhổ từng sợi từng sợi tóc
người chết.
Nhìn thấy cảnh tượng đó, nỗi sợ hãi trong lòng gã nô bộc từ từ biến
mất, đồng thời lòng căm giận đối với mụ già mỗi lúc một dâng lên. Chỉ
trước đây ít phút gã nô bộc không hề do dự khi phải chọn việc có thể chết
đói thay vì đi làm kẻ cướp thì bây giờ ý nghĩ của gã đã hoàn toàn thay đổi.
Bó đuốc cành tùng bốc cháy phần phật trên sàn gác.
Gã nô bộc không hiểu vì sao mụ già lại nhổ tóc người chết và cũng
chưa thể phán đoán rõ ràng việc đó là đúng hay sai, chỉ biết rằng, trong một
đêm mưa gió như thế này việc lần mò nhổ tóc người chết là một tội ác
không thể tha thứ được! Đương nhiên gã nô bộc quên khuấy rằng chính gã
cũng vừa quyết định sẽ trở thành kẻ cướp.
Gã nô bộc sờ tay vào chuôi gươm, lao thẳng tới trước mặt mụ già. Mụ
già kinh hoàng bỏ chạy.
“Đứng lại!” - Gã nô bộc bước tránh những xác chết dưới chân, đuổi
theo mụ già, quát lớn. Mụ già cố đẩy gã ra để chạy thoát nhưng gã đã kịp
kéo tay mụ lại, hai người xoắn lấy nhau trong đống xác chết. Chẳng lâu la
gì, gã nô bộc đã quật ngã mụ đàn bà xuống sàn gác, giữ chặt hai cánh tay
gầy guộc của mụ như đang nắm cặp chân gà.
“Mụ đang làm gì, nói mau! Nếu không ta giết!”
Gã nô bộc kéo mụ già đứng dậy, rút gươm ra khỏi vỏ, huơ huơ trước
mặt. Mụ già nín lặng, người run bắn lên như cầy sấy, mắt mở to kinh hãi.
Gã nô bộc ý thức được rằng, mạng sống của mụ ta hoàn toàn nằm trong tay
mình, nên hả dần cơn giận và muốn biết chuyện gì đã xảy ra, liền cúi
xuống nhìn mụ già chậm rãi nói:
“Ta không phải là quan tuần tra mà chỉ là khách qua đường, không thể
bắt trói mụ được. Hãy nói cho ta biết vì sao mụ lại ở đây vào lúc này? Cuối
cùng thì mụ đã làm gì?”
Với hai hốc mắt đỏ bầm của loài chim ăn thịt, mụ già ngước nhìn gã nô
bộc, thở hổn hển và phát ra một giọng khàn khàn như loài quạ:
“Nhổ tóc... Nhổ tóc... để làm tóc giả mà...”
Nghe mụ già trả lời, gã nô bộc cảm thấy rất thất vọng, gã thấy khinh
miệt hơn là căm giận. Thấy thái độ của gã nô bộc có dịu đi đôi chút, mụ già
vừa nắm chặt lọn tóc của người chết vừa phát ra cái giọng oàm oạp như cóc
nhái, phân trần:
“Nhổ tóc người chết là không đúng rồi, có điều, những người này, lúc
sống họ cũng đã từng làm những nghề thất nhân tâm như vậy. Người đàn
bà mà lão nhổ tóc đây lúc trước đã bắt rắn lấy t...
★
— —
Tác giả: Nhiều tác giả
Người dịch: Trà Ly
NXB Văn Hóa Văn Nghệ TP.HCM
ebook©vctvegroup
CHÂU Á
NGƯỜI KABUL
Rabindranath Tagore (Ấn Độ)
Đứa con gái năm tuổi Sakula của tôi suốt ngày líu lo như khứu. Tôi
tin là con bé sẽ chẳng khi nào trầm lặng, buồn bã được. Mẹ cháu thường
cáu vì điều đó, nhưng tôi thì không. Tôi coi việc Sakula trầm lặng, suy tư là
rất không bình thường và không sao chịu nổi khi nó im lặng, ỉu xìu chẳng
nói năng gì. Vì vậy, hai cha con tôi thường trò chuyện với nhau rất rôm rả.
Chẳng hạn như, sáng hôm đó, trong khi tôi đang viết chương 17 của
một tiểu thuyết mới, Sakula chạy vào phòng, đặt bàn tay nhỏ xíu của cháu
vào tay tôi, nói:
- Ba ơi, Unôsahin bảo, trong đám mây có con voi, khi nó phun nước ra
mũi thì trời mưa đấy, đúng không ba?
Tôi còn đang nghĩ cách trả lời thì con bé lại liến thoắng chuyển sang
chủ đề khác:
- Ba ơi, ba với má quan hệ với nhau thế nào hả ba?
Tôi bất giác lẩm bẩm: “Về mặt pháp lý, má con là người em gái thân
yêu nhất của ba!”, nhưng không nói rõ ra mà ngẩng lên bảo “Con đi chơi
với Unôsahin đi! Ba đang bận mà!”.
Cửa sổ phòng tôi mở ra phố. Thằng bé Unôsahin đang chơi bên ngoài
cửa sổ. Tôi bảo Sakula ra đó chơi. Đang suy nghĩ để viết tiếp, con bé bỗng
chạy đến bên cửa sổ bảo: “Ba ơi, có một người Kabul! Có một người
Kabul đấy!” Tôi nhìn ra cửa sổ, quả nhiên có một người Kabul đang đi tới.
Anh ta mặc bộ trang phục đặc trưng của người Apganistan bẩn thỉu, rộng
thùng thình, quấn chiếc khăn to sụ trên đầu, vai đeo túi xách, tay cầm mấy
hộp nho khô.
Tôi không biết con gái tôi có cảm tưởng gì khi nhìn thấy con người đó,
nhưng con bé bắt đầu kêu lên “A a...”. “Ôi dào, tôi nghĩ, anh ta sắp đến kìa,
chuyện viết lách, hãy dừng lại đã”. Ngay lúc đó, người Kabul ngước mắt
nhìn bọn trẻ khiến con bé sợ hãi bỏ chạy vào nhà với mẹ cháu. Con bé lơ
mơ nghĩ rằng, trong chiếc túi mang trên vai của người đàn ông kia thế nào
cũng có vài ba đứa trẻ như nó. Lúc đó gã tiểu thương kia đã bước vào nhà,
mỉm cười chào tôi.
Dù đang nóng lòng hoàn thành chương 17, nhưng tôi nghĩ, anh ta đã
tới, mình cũng phải dừng công việc lại, mua vài thứ đồ cho anh ta vậy. Tôi
mua vài thứ và bắt đầu nói chuyện với anh ta.
Khi sắp đi ra, người Kabul hỏi:
- Thưa ngài, cô bé vừa rồi đâu ạ?
Tôi nghĩ, con bé Sakula không nên sợ sệt một cách vô cớ như vậy, nên
cho gọi cháu ra. Con bé đứng sát bên tôi nhìn người Kabul và chiếc túi của
anh ta. Anh ta cho con bé mấy quả nho khô, nhưng cháu không nhận, chỉ
càng nép sát vào người tôi, nỗi băn khoăn e ngại của nó càng tăng thêm.
Đó là lần đầu tiên Sakula và người Kabul gặp nhau.
Nhưng chỉ mấy ngày sau, vào một buổi sáng nọ, khi tôi sắp đi ra ngoài
thì tình cờ phát hiện con bé Sakula đang ngồi trên chiếc ghế băng trước
cửa, còn người đàn ông Kabul kia lại ngồi bên chân con bé nói cười rất vui
vẻ. Con bé Sakula xưa nay ngoài tôi ra, chưa bao giờ cháu gặp một ai lại
nhiệt tình, chăm chú nghe cháu nói chuyện như vậy. Trên vạt áo của cháu là
những quả hạnh nhân và nho khô, quà tặng của người Kabul cho con bé.
- Sao anh lại cho con bé những thứ ấy? - Tôi hỏi và đưa cho anh ta
đồng bạc. Anh ta có vẻ không bằng lòng, cầm lấy đồng bạc bỏ vào túi.
Một lát sau khi trở về, tôi nhận ra chính đồng bạc đó đã gây phiền hà
cho con bé. Bởi vì, sau khi anh chàng tiểu thương người Kabul kia cho
Sakula đồng bạc, mẹ cháu đã nhìn thấy, truy hỏi:
- Con lấy đồng bạc đó ở đâu, Sakula?
- Người Kabul cho con đấy mẹ ạ! - Sakula vui vẻ nói.
- Người Kabul cho con ư? - Mẹ con bé sợ hãi kêu lên - Sakula! Sao con
lại nhận tiền của ông ấy hả?
Đúng lúc đó tôi bước vào cửa và cứu con bé một “bàn thua” trông thấy.
Tôi phát hiện ra hai chú cháu không chỉ gặp nhau một hai lần. Người
Kabul dùng trái cây và nho khô, những của “hối lộ” có sức hấp dẫn lớn đối
với bọn trẻ, làm cho con bé từ chỗ sợ hãi lúc đầu, bây giờ lại trở thành bạn
thân của nhau.
Hai chú cháu thường trò chuyện với nhau rất vui. Con bé tỏ ra rất thích
thú khi gặp người Kabul. Sakula thường tươi cười vui vẻ ngồi trước mặt
người Kabul, nhìn thẳng vào anh ta hỏi:
- Người Kabul! Trong túi của chú có những gì thế?
Anh ta thường dùng giọng mũi của người miền núi, đáp:
- Một con voi to tướng!
Con bé cười tít mắt. Người Kabul cũng không muốn bỏ lỡ cơ hội chọc
cười Sakula, bèn hỏi lại:
- Sakula này, bao giờ thì cháu về “công công gia” đấy?
Đối với các cô gái Bangladesh, chuyện về “công công gia” (nhà chồng)
họ đã biết từ nhỏ, nhưng gia đình tôi chưa bao giờ cho cháu biết chuyện
này nên cháu rất mù mờ, song nó không hề để lộ điều đó, lém lỉnh hỏi:
“Thế chú đã đến đó chưa?”.
Mọi người ai cũng biết mấy từ “công công gia” ấy còn có một nghĩa
khác. Đó là cách nói khéo của từ “nhà tù”, một nơi không cần tiêu tốn tiền
bạc vẫn được “chăm sóc” chu đáo. Gã tiểu thương thô lỗ này cho rằng con
gái tôi ám chỉ nơi đó. Gã “hừm” một tiếng và tưởng tượng ra cảnh những
viên cảnh sát thường vung nắm đấm với mọi người, nói to: “Chú sẽ đập
nát cái “công công gia” nhếch nhác ấy!” Nghe gã tiểu thương nói thế,
Sakula cười lên đắc chí. Con bé không hiểu là người bạn lớn của nó cũng
muốn chọc cười nó cho vui.
Những ngày đầu mùa thu là những ngày mà các bậc đế vương thời cổ
đại thường chinh đông phạt bắc; sống ở một góc nhỏ Calcutta này, chẳng
hề đi đâu nhưng đầu óc tôi cũng phiêu diêu khắp thế giới. Chỉ cần nghe tên
một đất nước nào đó là tôi muốn bay tới đó ngay để ngắm cảnh, xem
người. Khi nhìn thấy người Kabul kia tôi như lạc vào cõi thần tiên với
những đỉnh núi trọc, vách núi dựng đứng cao chót vót, những con đường
nhỏ hẹp người chỉ có thể bò qua. Dường như tôi cũng nhìn thấy từng đoàn
lạc đà chở hàng, từng toán thương nhân quấn khăn trên đầu, có người còn
mang theo bên mình những thứ vũ khí cổ quái từ trên núi đi xuống đồng
bằng. Tôi hầu như nhìn thấy... nhưng ngay lúc đó mẹ Sukala bước đến bảo
tôi “Hãy lưu tâm tới con người đó”.
Mẹ Sakula là một người đàn bà cực kỳ nhát gan. Chỉ cần nghe thấy một
âm thanh nào đó trên phố hoặc nhìn thấy có người đi về phía mình là cô ấy
lập tức đoán định rằng họ không thể là ai khác ngoài bọn ăn cướp, bọn say
rượu, rắn độc, hổ báo, sâu bọ hoặc giả là bọn thủy thủ người Anh. Qua
nhiều năm kinh nghiệm cô ấy vẫn không sao xóa được nỗi sợ hãi cố hữu
của mình. Vì vậy, đối với người Kabul này cô rất nghi ngờ, thường nhắc
tôi phải chú ý tới hành động của anh ta. Tôi chỉ cười nhưng cô ấy thì rất
nghiêm túc nêu lên những rủi ro rất có thể xảy ra với con bé khi để nó tiếp
xúc với người Kabul!
Trung tuần tháng giêng hàng năm, Ôsaman, người Kabul đó thường về
nước một lần. Khi sắp lên đường anh ta thường rất bận vì phải đến từng
nhà thu nợ. Nhưng năm nay anh ta vẫn cố dành thời gian đến thăm Sakula
mấy lần trước khi về quê. Hình như hai chú cháu có hẹn với nhau, anh ta
chỉ đến thăm con bé vào buổi tối. Lúc đầu tôi cũng thấy ngài ngại nhưng
về sau cảm giác ấy không còn nữa khi mà bao giờ con gái tôi cũng rất vui
khi gặp người tiểu thương đó.
Một buổi sáng nọ khí trời rất lạnh, tôi đang ngồi trong phòng xem sách,
những tia nắng nhẹ buổi sớm chiếu vào bàn viết lan tỏa lên người tôi khiến
tôi cảm thấy thư thái dễ chịu. Lúc đó khoảng 8 giờ. Đột nhiên tôi nghe có
tiếng cãi vã trên phố, nhìn ra thì thấy Ôsaman bị hai viên cảnh sát áp giải,
đằng sau cả một đám trẻ con bám theo. Trên áo của Ôsaman có mấy vết
máu. Trong tay viên cảnh sát có một con dao nhọn. Tôi chạy ra cửa ngăn họ
lại hỏi xem có chuyện gì xảy ra. Qua sự bàn tán của mọi người tôi biết
Ôsaman cãi nhau với một khách hàng của mình và làm ông ta bị thương.
Lúc này người Kabul đó đang rất bực tức chửi mắng kẻ thù của anh ta. Bất
ngờ, từ ban công nhà tôi Sakula xuất hiện, gọi to “Người Kabul! Người
Kabul!” Khi quay lại nhìn con gái tôi, trên mặt Ôsaman chợt nở một nụ
cười. Hôm nay anh ta không mang theo chiếc túi xách nên hai chú cháu
không nói với nhau về đề tài “con voi” nữa, Sakula hỏi ngay đến chuyện
thứ hai: “Chú đến công công gia chứ?” Ôsaman cười bảo: “Chú đang đến
đó đây, cô bạn nhỏ ạ!”.
Vì bị kết tội mưu sát, Ôsaman bị tuyên án 8 năm tù giam.
Thời gian trôi đi, Ôsaman bị mọi người quên lãng. Chúng tôi vẫn sống
ở đó và làm công việc cũ, rất ít, thậm chí chẳng khi nào nhắc đến người
Kabul đó nữa. Ngay như Sakula cũng dần quên người bạn vong niên của
nó.
Năm tháng qua đi, vào một ngày thu rực rỡ, chúng tôi chuẩn bị đám
cưới cho Sakula.
Sáng tinh mơ hôm đó, mọi người đang tíu tít chuẩn bị cho lễ cưới thì có
một người tiến đến đứng trước mặt tôi, cung kính thi lễ. Thì ra đó là
Ôsaman, người Kabul dạo nào. Lúc đầu tôi không nhận ra anh ta. Anh ta
không mang túi cũng không quấn khăn cao trên đầu và chẳng còn gì là chút
thần khí như trước nữa, nhưng khi anh ta cười thì tôi nhận ra ngay.
- Anh về lúc nào thế Ôsaman? - Tôi hỏi.
- Tối hôm qua - Anh ta đáp - Tôi từ nhà tù đến đây.
Những lời này nghe rất chối tai. Tôi dự cảm đây chẳng phải là điềm
lành, tìm cách từ chối...
- Ở đây đang có chuyện vui. Tôi rất bận. Mấy hôm nữa anh hãy đến
được không?
Ôsaman lập tức quay người bước đi, nhưng anh ta chợt dừng lại trước
cửa, chần chừ một lúc rồi nói:
- Tôi có thể gặp người bạn nhỏ của tôi một lát, được không thưa ngài?
Chỉ một lát thôi mà!
Ôsaman cứ nghĩ Sakula vẫn như xưa nên đã chuẩn bị sẵn một ít nho
khô, đó là những thứ mà một người đồng hương của anh cho anh chứ bản
thân anh thì chẳng còn đồng xu nào để mua sắm nó!
Tôi nói:
- Gia đình chúng tôi đang có chuyện vui. Hôm nay anh không thể gặp ai
ở đây được đâu!
Trên mặt Ôsaman lộ rõ vẻ thất vọng. Anh ta bất mãn nhìn tôi và nói
“Tạm biệt” rồi quay gót.
Tôi cảm thấy mình hơi bất nhẫn, định gọi anh ta lại, không ngờ tự anh
đã quay lại. Anh đến trước mặt tôi, đưa túm nho khô ra, nói: “Thưa ngài!
Tôi mang thứ này đến cho cô bạn bé bỏng của tôi. Ngài có thể thay tôi trao
món quà này cho cháu được không, thưa ngài?”
Tôi nhận lấy túm nho khô, đang định trả tiền thì anh ta nắm lấy tay tôi,
nói:
- Ngài thật nhân từ, thưa ngài! Tôi sẽ nhớ ngài mãi mãi. Ngài không
cần trả tiền cho tôi đâu. Ngài có cô con gái thật đáng yêu, ở quê tôi cũng có
một đứa con gái như vậy. Tôi nhớ cháu quá nên tặng con gái ngài chút quà
này chứ đâu phải cần tiền ạ.
Nói tới đây anh ta thò tay vào túi áo lấy ra một tờ giấy nhỏ, nhàu nhò,
bẩn thỉu, trải ra trên bàn. Trên tờ giấy là một dấu lăn tay nhỏ xíu. Không
phải là ảnh cũng không phải là bức họa, nó chỉ là một dấu lăn tay bằng mực
đen đã phai màu. Anh ta giữ mãi cái dấu lăn tay bé nhỏ của con gái trong 8
năm dằng dặc ngồi tù!
Nước mắt tôi lặng lẽ trào ra. Tôi quên hẳn anh ta chỉ là một tiểu thương
nhập cư nghèo khổ, còn tôi là... mà không, không phải... Liệu tôi có gì đáng
tự hào hơn anh ta? Anh ta cũng là một người cha.
Chính dấu lăn tay của con gái người Kabul đó đã khiến tôi nghĩ tới
Sakula. Tôi liền gọi cháu ra. Mọi người cố ngăn lại nhưng tôi không nghe.
Sakula bước ra phòng khách. Cháu mặc bộ váy áo cưới màu hồng, giữa
trán điểm một nốt son nhựa đàn hương, trang điểm thành cô dâu, e lệ đứng
trước mặt người khách mới tới.
Nhìn cảnh tượng ấy người Kabul lộ rõ vẻ kinh ngạc. Anh ta cảm thấy
không còn tự nhiên như ngày nào với cô bé Sakula bé bỏng nữa. Nhìn
Sakula một hồi lâu, Ôsaman mỉm cười hỏi: “Cô bé ơi, cháu sắp đến công
công gia của cháu phải không nào?”
Hiện tại Sakula đã biết công công gia là thế nào rồi, con bé đỏ mặt, e
thẹn cúi đầu.
Tôi nhớ lại lần gặp nhau đầu tiên giữa con gái tôi và người tiểu thương
Kabul này, cảm thấy buồn buồn. Sau khi Sakula vào nhà trong, Ôsaman
thở dài khe khẽ và ngồi bệt xuống đất. Anh ta chợt nghĩ, suốt 8 năm đằng
đẵng ở trong tù, con gái anh nhất định đã lớn lên, khác trước nhiều lắm,
mà trong ngần ấy thời gian lẽ nào bản thân nó không phát sinh ra biến cố
gì?
Tiếng nhạc của buổi hôn lễ vang lên, những tia nắng vàng ấm áp lan tỏa
khắp nơi, Ôsaman ngồi đây miên man nhớ tới những dãy núi điệp trùng ở
quê nhà...
Tôi đưa cho Ôsaman một tờ ngân phiếu, nói:
- Hãy về quê đi Ôsaman, về với đứa con gái yêu quý của anh đi! Chúc
cho cuộc gặp gỡ giữa hai cha con vui vẻ! Đó chính là hạnh vận mà anh đã
mang lại cho con gái tôi đấy Ôsaman ạ!
Do trích bớt một phần kinh phí cho Ôsaman, hình thức buổi hôn lễ của
Sakula có giảm đi đôi chút. Không còn nhiều đèn điện trang trí nữa, tôi
cũng không thuê đội quân nhạc giúp vui. Cánh phụ nữ trong nhà thất vọng
lắm nhưng tôi lại cảm thấy rất hài lòng: Buổi tiệc thật tuyệt vời, và vinh
hạnh nữa, bởi lẽ, tôi đang nghĩ tới, ở nơi xa xôi kia sẽ có cuộc trùng phùng
cảm động giữa một người cha hết mực yêu thương con với đứa con gái độc
nhất của mình sau tám năm trời xa cách...
CÔ GÁI TRÊN TÀU HỎA
Bangde (Ấn Độ)
Đoàn tàu hỏa bắt đầu chuyển bánh, trong toa chỉ có mỗi một mình tôi.
Cho đến lúc tàu dừng ở ga đầu tiên, mới có thêm một cô gái lên tàu. Hai
ông bà già tiễn cô gái có lẽ là cha mẹ cô thì phải, dường như họ rất không
yên tâm về chuyến đi này của cô. Bà mẹ cứ căn dặn con phải để hành lý
chỗ nào, bất kể trường hợp nào cũng không được thò đầu qua cửa sổ khi
tàu đang chạy, không được bắt chuyện với người lạ, vân vân...
Bởi tôi là người mù nên không sao hình dung được diện mạo của cô
gái, nhưng từ tiếng “lẹt xẹt” phát ra sau mỗi bước chân của cô, tôi nhận ra
cô ấy đi dép lê. Tự nhiên tôi lại thích nghe tiếng cô ấy nói.
Tàu tiếp tục chuyển bánh, tôi hỏi cô gái:
- Cô có đi Dexiladun không?
Có lẽ do tôi ngồi trong một góc tối nên tiếng nói của tôi khiến cô gái
giật mình. Cô bất giác thốt lên khe khẽ: “Tôi không biết là ở đây có
người”.
Đúng vậy. Đôi mắt của những người bình thường đôi khi nhìn sự vật
trước mặt mà không hề thấy gì, chắc hẳn là có lý do, bởi những gì họ cần
nhìn là quá nhiều. Ngược lại, người mù cả hai mắt lại có thể dựa vào cảm
quan để nhận biết sự vật xung quanh.
- Thoạt đầu tôi cũng không trông thấy cô - Tôi nói - Nhưng tôi nghe
thấy cô lên tàu.
Tôi nghĩ, chỉ cần ngồi im chỗ cũ, cô ấy nhất định không phát hiện ra
được tôi là một người mù.
- Em đến Salalanpo thì xuống tàu, - Cô gái nói - Cô em sẽ ra ga đón em.
Thế còn chị, chị đi đàu vậy?
- Tôi đi Dexiladun, sau đó đi tiếp đến Musuli - Tôi đáp.
- Hay quá! Em cũng muốn đi Musuli. Em thích những dãy núi điệp
trùng ở đó, nhất là vào tháng mười.
- Đúng thế. Tháng mười được coi là mùa vàng ở Musuli mà!
Nói ra điều này, trong óc tôi liền hiện ra cảnh sắc tuyệt vời mà tôi từng
nhìn thấy trước khi bị hỏng mắt. Và, tôi thốt lên thành lời, chia sẻ niềm vui
với cô gái mới gặp: “Những thảm hoa hướng dương vàng rực ngập tràn
các triền núi. Không khí se se lạnh. Đêm đến, ngồi bên đống lửa uống một
chút rượu brandy, bao nhiêu du khách dù đã đi xa vẫn không sao quên được
chuyến du lịch đầy quyến rũ đến nơi này!”
Cô gái im lặng không nói gì, phải chăng cô cũng cảm động bởi những
gì tôi nói, hay là cô chỉ coi tôi là một người quảng giao có nhiều thiện cảm?
Đoạn, tôi buột miệng hỏi một câu thật khờ khạo:
- Bên ngoài trời thế nào hả cô?
Hình như cô gái không chú ý lắm tới câu hỏi của tôi. Lẽ nào cô đã phát
hiện ra tôi là một kẻ mù lòa? Tuy nhiên, một câu nói của cô đã giúp tôi lập
tức xóa đi sự nghi ngờ của mình, cảm thấy yên tâm hơn:
- Chị nhìn qua cửa sổ, chẳng phải là biết ngay sao? - Giọng nói của cô
thật tự nhiên, dễ chịu!
Tôi men theo băng ghế ngồi đến cạnh cửa sổ toa tàu, ngồi xuống, làm
như là đang thưởng thức phong cảnh bên ngoài. Trong trí tưởng tượng của
tôi, những dãy cột điện hai bên đường lùi nhanh về phía sau.
- Chị nhìn thấy chưa? - Cô gái hỏi.
Tôi chầm chậm đáp:
- Cây cối chuyển động còn chúng ta thì lại đứng yên.
- Đúng như vậy đấy - Cô gái phụ họa.
Rồi cả hai lại im lặng một hồi lâu. Tôi lên tiếng trước:
- Chị thấy em có một khuôn mặt rất ưa nhìn, em gái ạ - Tôi thân mật
nói. Tôi không sợ cô gái giận, bởi tôi biết con gái rất ít người không thích
được khen!
Cô gái bật cười, tiếng cười trong veo như tiếng chuông ngân.
- Chị nói thế làm em buồn đấy. Ai cũng bảo em đẹp, nghe mãi đâm
chán!
Nói vậy, chắc cô ta đẹp lắm! Tôi thầm nghĩ và nói luôn:
- Thì đúng thế còn gì? Khuôn mặt ưa nhìn thì đương nhiên là đẹp rồi!
- Chị thật biết cách làm cho người khác vui đấy nhỉ! Cô gái nói Nhưng làm sao chị biết được điều đó?
- Tàu sắp đến ga rồi. Cho tôi xin lỗi vì đã đường đột làm cho cô mất
vui!
- Cám ơn trời đất! May mà đường không đến nỗi xa lắm! Nếu phải
ngồi tàu thêm vài ba tiếng nữa, chắc chín nhừ người ra mất!
Lạ thế! Chỉ cần nghe giọng nói của cô ấy, tôi ngồi tàu mấy tiếng cũng
chẳng sao! Giọng nói của cô gái vừa réo rắt, vừa dịu dàng êm ái, có sức lôi
cuốn lạ lùng. Tôi nghĩ, chỉ cần xuống tàu là cô ấy có thể quên cuộc gặp gỡ
ngắn ngủi này, nhưng tôi thì không.
Tiếng còi tàu vang lên một hồi dài. Đoàn tàu từ từ chạy chậm lại. Cô
gái đứng lên thu dọn hành lý. Tôi không biết là cô ấy vấn tóc, hay để tóc
xõa ngang vai? Có lẽ là cắt tóc ngắn.
Đoàn tàu từ từ vào ga. Mùi nước hoa thoang thoảng từ mái tóc cô gái.
Tôi muốn đưa tay vuốt tóc cô nhưng cô đã bước đi, chỉ vương lại một chút
hương thơm dịu nhẹ.
Sân ga ồn ào hẳn lên. Một chàng trai hấp tấp bước lên tàu rồi đóng
sầm cửa khoang tàu lại. Tôi trở về chỗ ngồi. Còi tàu vang lên, đoàn tàu
tiếp tục chuyển bánh.
Tàu chạy mỗi lúc một nhanh, bánh xe rít trên đường sắt dập dình tạo
nên một tiết tấu vui tai. Tôi dò dẫm đến bên cửa sổ, ngồi xuống nhìn ra
ngoài. Chắc trời đã sáng, nhưng với tôi thì vẫn chỉ là đêm đen. Lúc này tôi
lại có một bạn đồng hành mới, có thể sẽ có tiết mục mới đây.
- Xin lỗi! Cô gái vừa xuống tàu là gì với chị? Thực tình mà nói, tôi
không tưởng tượng nổi vì sao cô ấy lại hấp dẫn đến thế? - Chàng trai có vẻ
ngượng ngùng nói.
- Cô gái ấy rất có ý tứ, lại rất dễ thương! - Tôi nói - Anh có thể nói cho
tôi biết tóc cô ấy dài hay ngắn không?
- Tôi không chú ý lắm - Anh chàng dường như có vẻ khó hiểu trước
câu hỏi của tôi - Nhưng tôi lại rất chú ý tới đôi mắt của cô ấy, đôi mắt thật
dài, thật đẹp... tiếc là... nó chẳng có tác dụng gì đối với cô ấy cả. Cô ấy bị
mù, chị không nhận ra sao?
TRĂNG KHUYẾT
Yuanni (Indonesia)
Sáng sớm, ra đi từ thị trấn, ngồi ô tô suốt tám tiếng đồng hồ, cô mới
đến nơi, bấy giờ trời đã về chiều. Ráng chiều đỏ sẫm bao phủ cả bầu trời
như một tấm võng cực lớn vây hãm cô. Toàn thân cô rã rời, mệt mỏi, lòng
đầy thấp thỏm lo âu, lủi thủi bước đi trong ánh chiều tà. Cô mong cho con
đường cứ dài ra mãi để cô không bao giờ tỉnh mộng!
Cô vừa đi vừa tự hỏi: Đi? Không đi? Trong sự dằn vặt vật vã ấy, ngôi
nhà đầy ám khí như bị bóng đè kia đột nhiên hiện ra trước mặt. Cô chần
chừ dừng lại trước cửa. Cánh cửa bỗng lặng lẽ mở ra không có lấy một
tiếng động. Một người đàn ông còn khá trẻ và rất đẹp trai đứng đó, đôi mắt
đen nhánh, sâu thăm thẳm. Đôi mắt ấy, trong phút chốc dậy lên những đợt
sóng lừng ào ạt úp chụp xuống người cô! Nhìn vào đôi mắt ấy, trước mắt
cô bỗng tối sầm lại, cô lảo đảo như sắp ngã. Người đàn ông đưa tay đỡ cô
lại, nhưng cô giãy nảy lên như chạm phải bỏng, đẩy vội anh ta ra. Người
anh ta cứng đờ như bị giội chậu nước lạnh. Khi trấn tĩnh lại, những đợt
sóng lừng trong mắt anh ta trở nên yên tĩnh và bình thản. “Từ xa anh đã
nhìn thấy em tới nên ra mở cửa cho em - Người đàn ông bình tĩnh nói - Em
vào nhà đi!”.
Cô lặng lẽ bước theo anh ta vào nhà, đứng lại sau khuôn cửa. Một thứ
mùi quen thuộc xộc vào mũi khiến cô bất giác hít một hơi dài, đưa mắt
nhìn bộ bàn ghế quen thuộc. Con búp bê bằng sứ và chiếc hộp nhạc hình
đàn dương cầm trong tủ đựng đồ trang sức vẫn nguyên chỗ cũ, tự nhiên hai
dòng nước mắt cô ứa ra lăn dài trên má. Đây đã từng là nhà của cô!
Lúc này cô trở thành một người khách đang ngồi nghiêm trang trên bộ
sofa, nhìn lướt khắp gian phòng. Trong phòng chỗ nào cũng có ảnh của mẹ,
người trong ảnh được tạo dáng theo nhiều kiểu khác nhau như một minh
tinh màn bạc, trông thật chối mắt! “Ngày trước mình có cảm giác đó
không?” - Cô tự hỏi. Người mẹ xinh đẹp của cô sinh cô vào năm mới hơn
mười sáu tuổi, sau đó ly dị chồng. Cô sống với mẹ. Dạo đó bạn trai của mẹ
ẳ
cô nhiều như cá ấn trên sông, cô chẳng quan tâm, chỉ chuyên chú vào việc
học hành.
Người đàn ông đem cốc nước trà đặt trước mặt cô, do dự một chút rồi
ngồi xuống phía đối diện, nhìn cô chăm chăm với thần thái của một người
có bao điều muốn nói mà chưa nói được! Cô cũng nhìn anh ta, sóng lòng
từng đợt từng đợt cuộn trào mãnh liệt, dội mãi vào thân đê đã có chỗ rạn
vỡ của cô. Hai người đắm đuối nhìn nhau trong khoảnh khắc, chợt bàng
hoàng nhận ra giữa họ lúc này cách nhau thăm thẳm như trong buổi hồng
hoang mờ mịt của đất trời!
Cô im lặng hồi lâu, cảm thấy như có vô số những ánh mắt nhìn xoáy
vào hai người. Cô ngẩng lên tìm kiếm nơi phát ra những ánh nhìn ấy - đó
chính là những bức ảnh của mẹ cô trên tường! Cô hận nụ cười và ánh mắt
ấy biết bao! Người đàn ông cũng nhìn những bức ảnh trên tường, và,
không hẹn mà gặp, cả hai cùng thốt lên “Sao lại như thế được?”. Nói xong,
họ lại trầm ngâm như trước.
Rất lâu sau cô hỏi:
- Mẹ đâu? Mẹ thế nào rồi?
Người đàn ông im lặng một lát mới lên tiếng:
- Biết em thế nào cũng về, bà ấy đi chợ rồi.
Cô nhìn người đàn ông tỏ vẻ nghi ngờ, đoạn lẩm bẩm:
- Bà ấy lại lừa em rồi, lừa em nữa rồi! Chắc chắn bà ấy không hề bị xe
tông!
Cô vụt đứng dậy, mặt đỏ bừng, gằn giọng: “Em về đây!”
Nói xong cô hấp tấp bước ra cửa, bị vấp vào ngạch cửa, suýt ngã. Cô
đứng thẳng lại, ngẩng đầu nhìn lên bức ảnh cưới được phóng to treo bên
phải cửa chính, trong đó cô dâu có nụ cười tươi rói. Nhìn cô dâu trong ảnh,
nước mắt cô ngầng ngậng lưng tròng rồi ràn rụa trào ra lăn dài trên má. Đó
phải là mình chứ? Sao lại là bà ấy - là mẹ mình? Trái tim cô như gào lên,
khổ đau cùng cực!
Hồi ấy mẹ rất quan tâm tới cô. Thư từ qua lại giữa cô và bạn trai, cô
đều đưa cho mẹ xem. Mẹ cô yêu mến và khen ngợi bạn trai cô hết lời, giục
hai người nhanh chóng kết hôn. Bà còn hứa sẽ lo tiệc cưới cho hai người
thật chu đáo!...
Trước hôn lễ một tuần, mẹ nói với cô, theo phong tục, trong thời gian
này hai người không được phép gặp nhau, cô phải về quê nghỉ ngơi, bồi bổ
sức khỏe, đợi đến hôm đó bà sẽ cho người về đón. Cô tin theo lời mẹ.
Chồng chưa cưới của cô là một chàng trai mồ côi cả cha lẫn mẹ, lúc đó
lại đang làm việc ở xa, hôn sự hoàn toàn trông cậy vào gia đình vợ. Đến
ngày cử hành hôn lễ, khi mở tấm khăn che mặt của cô dâu anh mới nhận ra
rằng cô dâu đã bị đánh tráo! Bà bảo với anh rằng, con gái bà đang ốm, bà
phải tạm thời thay thế. Anh ta tin ngay. Nhưng rồi trong đêm đó bà đã dụ
dỗ được anh ta! Mãi cho đến lúc cô dâu thật biết được chân tướng, tất cả
đều đã muộn!
Nghẹn ngào, rơm rớm nước mắt, đôi bàn tay của người đàn ông đặt
nhẹ lên vai cô. Qua làn nước mắt, cô nhìn vào mặt anh ta, nức nở:
- Em về đây làm gì chứ? Chẳng lẽ chỉ để gọi anh một tiếng “cha”?
Người đàn ông giật nẩy mình, đau khổ quay mặt đi, nước mắt rơi lã
chã, đôi tay đặt trên vai cô bất chợt rung lên dữ dội! Cô gỡ đôi tay ấy khỏi
vai mình.
Ngoài cửa, ráng chiều đã tắt, bầu trời tối sẫm lại. Đêm không sao,
không trăng. Đèn đường bắt đầu bật sáng. Cô chầm chậm bước đi, rồi
bước đi nhanh hơn, và chạy. Người đàn ông gọi theo, càng gọi cô càng
chạy nhanh hơn. Âm vang của tiếng gọi cứ nhỏ dần, nhỏ dần rồi tắt hẳn.
Vừa hay bóng đêm đen thẫm đã cùng lúc chôn vùi cả nỗi khổ đau và dĩ
vãng của hai người!
LA SINH MÔN
Akutagawa Ryunosuke (Nhật Bản)
Chạng vạng tối, có một gã nô bộc trú mưa tại La Sinh Môn.
Bên dưới cổng thành rộng lớn, ngoài hắn ra chẳng còn ai khác, chỉ thấy
một chú dế đang ngồi chồm chỗm trên đầu một cây trụ tròn to sơn son
thếp vàng đã tróc lở loang lổ. La Sinh Môn tọa lạc trên đại lộ Chu Tước
vốn không thiếu khách bộ hành nam thanh nữ tú diện nón lá, mũ mềm trú
mưa ở đó, nhưng hiện tại chỉ có mỗi một mình gã nô bộc hết thời ở đấy mà
thôi.
Vì sao lại như vậy? Vì rằng mấy năm trở lại đây liên tiếp gặp phải
những trận động đất, gió bão, hỏa hoạn nặng nề, mất mùa đói kém liên
miên, kinh thành vô cùng thê lương hoang vắng. Theo những gì còn ghi
chép lại từ thời ấy, hồi đó có những tượng phật bằng gỗ, những hoành phi
câu đối sơn son thếp vàng bị đập vỡ mang ra bỏ bên đường để bán làm củi.
Tình cảnh ở kinh thành như thế nên việc tu sửa La Sinh Môn đương nhiên
là chẳng ai quản nữa. Trong khung cảnh thê lương hoang phế đó, lũ chồn
cáo và bọn gian manh cướp bóc thừa cơ tìm đến nơi này trú ngụ. Về sau,
thậm chí đã thành thói quen, những xác chết vô chủ cũng bị đem vứt ở đó.
Vì vậy, khi mặt trời vừa lặn, không khí nơi đây vô cùng ảm đạm, chẳng ai
dám đến đây nữa.
Vậy mà, chẳng biết từ đâu, hàng đàn quạ đen lũ lượt kéo đến. Ban ngày
chúng lượn lờ trên không om sòm táo tác. Ban đêm chúng đậu la liệt trên
đỉnh lầu cổng thành. Đương nhiên là lũ quạ tụ tập tới đây để ăn xác người
chết, chúng thải ra những bãi phân lốm đốm trắng khắp nơi. Gã nô bộc
mặc chiếc áo khoác quý đã lâu không giặt, đặt đít ngồi lên bậc thềm cao
nhất trên chiếc cầu thang bảy bậc, tay mân mê vết loét trên má phải, mù
mờ vô thức chờ mưa tạnh.
Gã nô bộc trú mưa? Đúng vậy. Nhưng cơn mưa tạnh đã lâu mà gã vẫn
ngồi im tại chỗ. Đúng ra là gã phải về nhà người chủ cũ, tuy nhiên, cách
đây bốn năm hôm, ông chủ cũ đã cho gã thôi việc. Như trên đã nói, lúc bấy
giờ kinh thành rất tiêu điều, cho nên việc gã nô bộc bị lão chủ nhiều năm
nay cho thôi việc cũng là điều dễ hiểu, nó chẳng khác nào dư ba của một
cơn sóng lớn mới tràn qua! Chuyện trú mưa của gã nô bộc thực ra chỉ là
một cái cớ. Gã chẳng biết phải đi đâu. Mà thời tiết hôm nay càng làm cho
gã u sầu, buồn thảm. Cơn mưa từ đầu giờ thân tới giờ dậu vẫn chưa dứt
hẳn. Gã nô bộc vẫn không thôi suy nghĩ xem ngày mai sẽ sống thế nào?
Tiếng mưa rơi trên đại lộ Chu Tước vẫn đều đều vọng đến tai gã.
Mưa vẫn rơi rào rào trên La Sinh Môn. Từng đám mây đen nặng trĩu
bay xiên trên đỉnh lầu cổng thành.
“Phải tìm cách gì để sống chứ, nếu không thì chết đói mất?”; “Bới
đống rác rưởi có lẫn xác chết tìm cái ăn ư?, ghê rợn quá!”; “Hay là... đi ăn
cướp? Nhưng liệu mình có dám làm?”. Gã hắt xì hơi một tràng dài rồi đờ
đẫn bước đi. Màn đêm đã kịp phủ xuống nơi cổng thành, từng luồng gió
lạnh buốt thổi thốc tới không chút nể nang khách khí khiến cho gã nô bộc
run lên. Con dế trên cây trụ cổng đã biến mất tự bao giờ.
Gã nô bộc rụt cổ lại, kéo vạt áo khoác phủ qua vai, nhìn ngó mông lung
dường như muốn tìm lấy một nơi kín đáo vừa để tránh gió vừa không bị ai
nhòm ngó, có thể yên tĩnh ngủ qua đêm. Gã chợt phát hiện ra thang gác dẫn
lên lầu cũng sơn son thếp vàng và khá rộng rãi. Nhìn lên lầu thấy có mấy
người nhưng họ đều đã chết. Gã đưa tay sờ vào thanh gươm giắt bên lưng,
nhấc chân với chiếc giày cỏ đặt lên bậc cuối của cầu thang.
Một lát sau, gã nô bộc nhìn thấy ở khoảng giữa cầu thang có một người
co rúm tựa một con mèo đang lấm lét nhìn quanh. Dưới ánh lửa lúc mờ lúc
tỏ gã nhìn thấy một người đàn ông với chòm râu ngắn ngủn và một vết loét
to bên má phải, đương nhiên đó cũng là một xác chết. Lên thêm mấy bậc
nữa gã nô bộc nhìn thấy một người đang đốt lửa, ánh lửa chập chờn lay
động làm ánh lên mơ hồ mấy tấm mạng nhện giăng trên trần lầu. Gã hiểu
rất rõ, kẻ đốt lên ngọn lửa kia dứt khoát không thể là một người tầm
thường.
Gã nô bộc như một con thạch sùng chợt đứng khựng lại, hiểu ra rằng
chẳng hề dễ dàng chút nào để bước tới bậc cao nhất của cầu thang, liền áp
sát người xuống thấp, vươn cổ ra thận trọng nhìn lên lầu. Ở đó đang có
mấy thi thể bỏ ngổn ngang, bừa bãi. Ánh lửa yếu ớt, bập bùng đủ để nhìn
thấy những xác người cả nam lẫn nữ trần truồng, còm nhom, rách rưới.
Những thi thể này chẳng có vẻ gì là những người đã từng sống, nó giống
những con tò he hơn, há hốc mồm, thè lưỡi, tay dang ra nằm sõng soài trên
đất.
Mùi hôi thối xộc lên nồng nặc từ đám xác chết khiến gã nô bộc phải bịt
mũi lại. Nhưng ngay lúc đó gã đột nhiên giật nẩy mình không còn cảm thấy
hôi thối nữa: ngồi xổm trong đống xác chết là một người đàn bà già nua
vừa lùn vừa ốm trông như một con khỉ mặc chiếc áo màu cọ xám. Tay phải
mụ ta cầm cây đuốc bằng cành tùng đang cháy, mắt chăm chăm nhìn vào
mặt người chết bên cạnh, một người có mái tóc đẹp, hình như là một cô
gái.
Gã nô bộc vừa hoảng sợ vừa hiếu kỳ, bị kích động quá mạnh khiến cho
tim gã như ngừng đập. Quả như người xưa nói, gã sợ đến sởn tóc gáy! Mụ
già bỏ cây đuốc xuống nền nhà, hai tay nâng đầu người đàn bà đã chết,
và... giống như khỉ mẹ bắt chấy cho khỉ con, mụ nhổ từng sợi từng sợi tóc
người chết.
Nhìn thấy cảnh tượng đó, nỗi sợ hãi trong lòng gã nô bộc từ từ biến
mất, đồng thời lòng căm giận đối với mụ già mỗi lúc một dâng lên. Chỉ
trước đây ít phút gã nô bộc không hề do dự khi phải chọn việc có thể chết
đói thay vì đi làm kẻ cướp thì bây giờ ý nghĩ của gã đã hoàn toàn thay đổi.
Bó đuốc cành tùng bốc cháy phần phật trên sàn gác.
Gã nô bộc không hiểu vì sao mụ già lại nhổ tóc người chết và cũng
chưa thể phán đoán rõ ràng việc đó là đúng hay sai, chỉ biết rằng, trong một
đêm mưa gió như thế này việc lần mò nhổ tóc người chết là một tội ác
không thể tha thứ được! Đương nhiên gã nô bộc quên khuấy rằng chính gã
cũng vừa quyết định sẽ trở thành kẻ cướp.
Gã nô bộc sờ tay vào chuôi gươm, lao thẳng tới trước mặt mụ già. Mụ
già kinh hoàng bỏ chạy.
“Đứng lại!” - Gã nô bộc bước tránh những xác chết dưới chân, đuổi
theo mụ già, quát lớn. Mụ già cố đẩy gã ra để chạy thoát nhưng gã đã kịp
kéo tay mụ lại, hai người xoắn lấy nhau trong đống xác chết. Chẳng lâu la
gì, gã nô bộc đã quật ngã mụ đàn bà xuống sàn gác, giữ chặt hai cánh tay
gầy guộc của mụ như đang nắm cặp chân gà.
“Mụ đang làm gì, nói mau! Nếu không ta giết!”
Gã nô bộc kéo mụ già đứng dậy, rút gươm ra khỏi vỏ, huơ huơ trước
mặt. Mụ già nín lặng, người run bắn lên như cầy sấy, mắt mở to kinh hãi.
Gã nô bộc ý thức được rằng, mạng sống của mụ ta hoàn toàn nằm trong tay
mình, nên hả dần cơn giận và muốn biết chuyện gì đã xảy ra, liền cúi
xuống nhìn mụ già chậm rãi nói:
“Ta không phải là quan tuần tra mà chỉ là khách qua đường, không thể
bắt trói mụ được. Hãy nói cho ta biết vì sao mụ lại ở đây vào lúc này? Cuối
cùng thì mụ đã làm gì?”
Với hai hốc mắt đỏ bầm của loài chim ăn thịt, mụ già ngước nhìn gã nô
bộc, thở hổn hển và phát ra một giọng khàn khàn như loài quạ:
“Nhổ tóc... Nhổ tóc... để làm tóc giả mà...”
Nghe mụ già trả lời, gã nô bộc cảm thấy rất thất vọng, gã thấy khinh
miệt hơn là căm giận. Thấy thái độ của gã nô bộc có dịu đi đôi chút, mụ già
vừa nắm chặt lọn tóc của người chết vừa phát ra cái giọng oàm oạp như cóc
nhái, phân trần:
“Nhổ tóc người chết là không đúng rồi, có điều, những người này, lúc
sống họ cũng đã từng làm những nghề thất nhân tâm như vậy. Người đàn
bà mà lão nhổ tóc đây lúc trước đã bắt rắn lấy t...
 





