TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

VIDEO TƯ LIỆU HỌC TẬP

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU

    Giới thiệu Website Trường THCS Phú Lỗ – Phú Thọ Website trường THCS Phú Lỗ – Phú Thọ là kênh thông tin chính thức và là cầu nối quan trọng giữa nhà trường, phụ huynh và học sinh. Với giao diện thân thiện, nội dung phong phú và cập nhật thường xuyên, website không chỉ phản ánh sinh động các hoạt động dạy – học, mà còn lan tỏa những giá trị giáo dục cốt lõi của nhà trường. Đây là nơi tôn vinh tinh thần hiếu học, sáng tạo và trách nhiệm của thầy trò THCS Phú Lỗ trên hành trình đổi mới và phát triển giáo dục. Website đồng thời là kho tư liệu quý báu, hỗ trợ giáo viên trao đổi chuyên môn, học sinh khám phá tri thức và phụ huynh theo sát hành trình học tập của con em mình. Không chỉ là một trang web, đây còn là ngôi nhà trí tuệ số hóa, mang đậm dấu ấn của một môi trường học đường nhân văn, hiện đại và gắn kết.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Chau_Au.jpg CangBien.jpg TG10.jpg VietNamtrongDNA.jpg Luoc_do_dia_hinh_Viet_Nam1jpg.jpg Luoc_do_cac_khu_vuc_Chau_A.jpg GIAOTHONGTPHCMMAU3.jpg TG07.jpg 1.jpg

    TẠI SAO? NHỮNG CÂU HỎI NGỘ NGHĨNH

    💕💕 Chỉ cần một thiết bị nhỏ, bạn có cả thư viện trong tay!💕Một chạm – triệu kiến thức.💕

    Sống Đơn Giản Cho Mình Thanh Thản - Chương 1

    Truyện Ngắn Thế Giới Chọn Lọc - Nhiều Tác Giả & Trà Ly (dịch) (1)

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
    Ngày gửi: 20h:23' 28-04-2024
    Dung lượng: 1.1 MB
    Số lượt tải: 3
    Số lượt thích: 0 người
    TRUYỆN NGẮN THẾ GIỚI CHỌN LỌC



    — —
    Tác giả: Nhiều tác giả
    Người dịch: Trà Ly
    NXB Văn Hóa Văn Nghệ TP.HCM

    ebook©vctvegroup

    CHÂU Á

    NGƯỜI KABUL
    Rabindranath Tagore (Ấn Độ)

    Đứa con gái năm tuổi Sakula của tôi suốt ngày líu lo như khứu. Tôi
    tin là con bé sẽ chẳng khi nào trầm lặng, buồn bã được. Mẹ cháu thường
    cáu vì điều đó, nhưng tôi thì không. Tôi coi việc Sakula trầm lặng, suy tư là
    rất không bình thường và không sao chịu nổi khi nó im lặng, ỉu xìu chẳng
    nói năng gì. Vì vậy, hai cha con tôi thường trò chuyện với nhau rất rôm rả.
    Chẳng hạn như, sáng hôm đó, trong khi tôi đang viết chương 17 của
    một tiểu thuyết mới, Sakula chạy vào phòng, đặt bàn tay nhỏ xíu của cháu
    vào tay tôi, nói:
    - Ba ơi, Unôsahin bảo, trong đám mây có con voi, khi nó phun nước ra
    mũi thì trời mưa đấy, đúng không ba?
    Tôi còn đang nghĩ cách trả lời thì con bé lại liến thoắng chuyển sang
    chủ đề khác:
    - Ba ơi, ba với má quan hệ với nhau thế nào hả ba?
    Tôi bất giác lẩm bẩm: “Về mặt pháp lý, má con là người em gái thân
    yêu nhất của ba!”, nhưng không nói rõ ra mà ngẩng lên bảo “Con đi chơi
    với Unôsahin đi! Ba đang bận mà!”.
    Cửa sổ phòng tôi mở ra phố. Thằng bé Unôsahin đang chơi bên ngoài
    cửa sổ. Tôi bảo Sakula ra đó chơi. Đang suy nghĩ để viết tiếp, con bé bỗng
    chạy đến bên cửa sổ bảo: “Ba ơi, có một người Kabul! Có một người
    Kabul đấy!” Tôi nhìn ra cửa sổ, quả nhiên có một người Kabul đang đi tới.
    Anh ta mặc bộ trang phục đặc trưng của người Apganistan bẩn thỉu, rộng
    thùng thình, quấn chiếc khăn to sụ trên đầu, vai đeo túi xách, tay cầm mấy
    hộp nho khô.
    Tôi không biết con gái tôi có cảm tưởng gì khi nhìn thấy con người đó,
    nhưng con bé bắt đầu kêu lên “A a...”. “Ôi dào, tôi nghĩ, anh ta sắp đến kìa,
    chuyện viết lách, hãy dừng lại đã”. Ngay lúc đó, người Kabul ngước mắt
    nhìn bọn trẻ khiến con bé sợ hãi bỏ chạy vào nhà với mẹ cháu. Con bé lơ

    mơ nghĩ rằng, trong chiếc túi mang trên vai của người đàn ông kia thế nào
    cũng có vài ba đứa trẻ như nó. Lúc đó gã tiểu thương kia đã bước vào nhà,
    mỉm cười chào tôi.
    Dù đang nóng lòng hoàn thành chương 17, nhưng tôi nghĩ, anh ta đã
    tới, mình cũng phải dừng công việc lại, mua vài thứ đồ cho anh ta vậy. Tôi
    mua vài thứ và bắt đầu nói chuyện với anh ta.
    Khi sắp đi ra, người Kabul hỏi:
    - Thưa ngài, cô bé vừa rồi đâu ạ?
    Tôi nghĩ, con bé Sakula không nên sợ sệt một cách vô cớ như vậy, nên
    cho gọi cháu ra. Con bé đứng sát bên tôi nhìn người Kabul và chiếc túi của
    anh ta. Anh ta cho con bé mấy quả nho khô, nhưng cháu không nhận, chỉ
    càng nép sát vào người tôi, nỗi băn khoăn e ngại của nó càng tăng thêm.
    Đó là lần đầu tiên Sakula và người Kabul gặp nhau.
    Nhưng chỉ mấy ngày sau, vào một buổi sáng nọ, khi tôi sắp đi ra ngoài
    thì tình cờ phát hiện con bé Sakula đang ngồi trên chiếc ghế băng trước
    cửa, còn người đàn ông Kabul kia lại ngồi bên chân con bé nói cười rất vui
    vẻ. Con bé Sakula xưa nay ngoài tôi ra, chưa bao giờ cháu gặp một ai lại
    nhiệt tình, chăm chú nghe cháu nói chuyện như vậy. Trên vạt áo của cháu là
    những quả hạnh nhân và nho khô, quà tặng của người Kabul cho con bé.
    - Sao anh lại cho con bé những thứ ấy? - Tôi hỏi và đưa cho anh ta
    đồng bạc. Anh ta có vẻ không bằng lòng, cầm lấy đồng bạc bỏ vào túi.
    Một lát sau khi trở về, tôi nhận ra chính đồng bạc đó đã gây phiền hà
    cho con bé. Bởi vì, sau khi anh chàng tiểu thương người Kabul kia cho
    Sakula đồng bạc, mẹ cháu đã nhìn thấy, truy hỏi:
    - Con lấy đồng bạc đó ở đâu, Sakula?
    - Người Kabul cho con đấy mẹ ạ! - Sakula vui vẻ nói.
    - Người Kabul cho con ư? - Mẹ con bé sợ hãi kêu lên - Sakula! Sao con
    lại nhận tiền của ông ấy hả?
    Đúng lúc đó tôi bước vào cửa và cứu con bé một “bàn thua” trông thấy.
    Tôi phát hiện ra hai chú cháu không chỉ gặp nhau một hai lần. Người
    Kabul dùng trái cây và nho khô, những của “hối lộ” có sức hấp dẫn lớn đối
    với bọn trẻ, làm cho con bé từ chỗ sợ hãi lúc đầu, bây giờ lại trở thành bạn
    thân của nhau.

    Hai chú cháu thường trò chuyện với nhau rất vui. Con bé tỏ ra rất thích
    thú khi gặp người Kabul. Sakula thường tươi cười vui vẻ ngồi trước mặt
    người Kabul, nhìn thẳng vào anh ta hỏi:
    - Người Kabul! Trong túi của chú có những gì thế?
    Anh ta thường dùng giọng mũi của người miền núi, đáp:
    - Một con voi to tướng!
    Con bé cười tít mắt. Người Kabul cũng không muốn bỏ lỡ cơ hội chọc
    cười Sakula, bèn hỏi lại:
    - Sakula này, bao giờ thì cháu về “công công gia” đấy?
    Đối với các cô gái Bangladesh, chuyện về “công công gia” (nhà chồng)
    họ đã biết từ nhỏ, nhưng gia đình tôi chưa bao giờ cho cháu biết chuyện
    này nên cháu rất mù mờ, song nó không hề để lộ điều đó, lém lỉnh hỏi:
    “Thế chú đã đến đó chưa?”.
    Mọi người ai cũng biết mấy từ “công công gia” ấy còn có một nghĩa
    khác. Đó là cách nói khéo của từ “nhà tù”, một nơi không cần tiêu tốn tiền
    bạc vẫn được “chăm sóc” chu đáo. Gã tiểu thương thô lỗ này cho rằng con
    gái tôi ám chỉ nơi đó. Gã “hừm” một tiếng và tưởng tượng ra cảnh những
    viên cảnh sát thường vung nắm đấm với mọi người, nói to: “Chú sẽ đập
    nát cái “công công gia” nhếch nhác ấy!” Nghe gã tiểu thương nói thế,
    Sakula cười lên đắc chí. Con bé không hiểu là người bạn lớn của nó cũng
    muốn chọc cười nó cho vui.
    Những ngày đầu mùa thu là những ngày mà các bậc đế vương thời cổ
    đại thường chinh đông phạt bắc; sống ở một góc nhỏ Calcutta này, chẳng
    hề đi đâu nhưng đầu óc tôi cũng phiêu diêu khắp thế giới. Chỉ cần nghe tên
    một đất nước nào đó là tôi muốn bay tới đó ngay để ngắm cảnh, xem
    người. Khi nhìn thấy người Kabul kia tôi như lạc vào cõi thần tiên với
    những đỉnh núi trọc, vách núi dựng đứng cao chót vót, những con đường
    nhỏ hẹp người chỉ có thể bò qua. Dường như tôi cũng nhìn thấy từng đoàn
    lạc đà chở hàng, từng toán thương nhân quấn khăn trên đầu, có người còn
    mang theo bên mình những thứ vũ khí cổ quái từ trên núi đi xuống đồng
    bằng. Tôi hầu như nhìn thấy... nhưng ngay lúc đó mẹ Sukala bước đến bảo
    tôi “Hãy lưu tâm tới con người đó”.
    Mẹ Sakula là một người đàn bà cực kỳ nhát gan. Chỉ cần nghe thấy một
    âm thanh nào đó trên phố hoặc nhìn thấy có người đi về phía mình là cô ấy

    lập tức đoán định rằng họ không thể là ai khác ngoài bọn ăn cướp, bọn say
    rượu, rắn độc, hổ báo, sâu bọ hoặc giả là bọn thủy thủ người Anh. Qua
    nhiều năm kinh nghiệm cô ấy vẫn không sao xóa được nỗi sợ hãi cố hữu
    của mình. Vì vậy, đối với người Kabul này cô rất nghi ngờ, thường nhắc
    tôi phải chú ý tới hành động của anh ta. Tôi chỉ cười nhưng cô ấy thì rất
    nghiêm túc nêu lên những rủi ro rất có thể xảy ra với con bé khi để nó tiếp
    xúc với người Kabul!
    Trung tuần tháng giêng hàng năm, Ôsaman, người Kabul đó thường về
    nước một lần. Khi sắp lên đường anh ta thường rất bận vì phải đến từng
    nhà thu nợ. Nhưng năm nay anh ta vẫn cố dành thời gian đến thăm Sakula
    mấy lần trước khi về quê. Hình như hai chú cháu có hẹn với nhau, anh ta
    chỉ đến thăm con bé vào buổi tối. Lúc đầu tôi cũng thấy ngài ngại nhưng
    về sau cảm giác ấy không còn nữa khi mà bao giờ con gái tôi cũng rất vui
    khi gặp người tiểu thương đó.
    Một buổi sáng nọ khí trời rất lạnh, tôi đang ngồi trong phòng xem sách,
    những tia nắng nhẹ buổi sớm chiếu vào bàn viết lan tỏa lên người tôi khiến
    tôi cảm thấy thư thái dễ chịu. Lúc đó khoảng 8 giờ. Đột nhiên tôi nghe có
    tiếng cãi vã trên phố, nhìn ra thì thấy Ôsaman bị hai viên cảnh sát áp giải,
    đằng sau cả một đám trẻ con bám theo. Trên áo của Ôsaman có mấy vết
    máu. Trong tay viên cảnh sát có một con dao nhọn. Tôi chạy ra cửa ngăn họ
    lại hỏi xem có chuyện gì xảy ra. Qua sự bàn tán của mọi người tôi biết
    Ôsaman cãi nhau với một khách hàng của mình và làm ông ta bị thương.
    Lúc này người Kabul đó đang rất bực tức chửi mắng kẻ thù của anh ta. Bất
    ngờ, từ ban công nhà tôi Sakula xuất hiện, gọi to “Người Kabul! Người
    Kabul!” Khi quay lại nhìn con gái tôi, trên mặt Ôsaman chợt nở một nụ
    cười. Hôm nay anh ta không mang theo chiếc túi xách nên hai chú cháu
    không nói với nhau về đề tài “con voi” nữa, Sakula hỏi ngay đến chuyện
    thứ hai: “Chú đến công công gia chứ?” Ôsaman cười bảo: “Chú đang đến
    đó đây, cô bạn nhỏ ạ!”.
    Vì bị kết tội mưu sát, Ôsaman bị tuyên án 8 năm tù giam.
    Thời gian trôi đi, Ôsaman bị mọi người quên lãng. Chúng tôi vẫn sống
    ở đó và làm công việc cũ, rất ít, thậm chí chẳng khi nào nhắc đến người
    Kabul đó nữa. Ngay như Sakula cũng dần quên người bạn vong niên của
    nó.

    Năm tháng qua đi, vào một ngày thu rực rỡ, chúng tôi chuẩn bị đám
    cưới cho Sakula.
    Sáng tinh mơ hôm đó, mọi người đang tíu tít chuẩn bị cho lễ cưới thì có
    một người tiến đến đứng trước mặt tôi, cung kính thi lễ. Thì ra đó là
    Ôsaman, người Kabul dạo nào. Lúc đầu tôi không nhận ra anh ta. Anh ta
    không mang túi cũng không quấn khăn cao trên đầu và chẳng còn gì là chút
    thần khí như trước nữa, nhưng khi anh ta cười thì tôi nhận ra ngay.
    - Anh về lúc nào thế Ôsaman? - Tôi hỏi.
    - Tối hôm qua - Anh ta đáp - Tôi từ nhà tù đến đây.
    Những lời này nghe rất chối tai. Tôi dự cảm đây chẳng phải là điềm
    lành, tìm cách từ chối...
    - Ở đây đang có chuyện vui. Tôi rất bận. Mấy hôm nữa anh hãy đến
    được không?
    Ôsaman lập tức quay người bước đi, nhưng anh ta chợt dừng lại trước
    cửa, chần chừ một lúc rồi nói:
    - Tôi có thể gặp người bạn nhỏ của tôi một lát, được không thưa ngài?
    Chỉ một lát thôi mà!
    Ôsaman cứ nghĩ Sakula vẫn như xưa nên đã chuẩn bị sẵn một ít nho
    khô, đó là những thứ mà một người đồng hương của anh cho anh chứ bản
    thân anh thì chẳng còn đồng xu nào để mua sắm nó!
    Tôi nói:
    - Gia đình chúng tôi đang có chuyện vui. Hôm nay anh không thể gặp ai
    ở đây được đâu!
    Trên mặt Ôsaman lộ rõ vẻ thất vọng. Anh ta bất mãn nhìn tôi và nói
    “Tạm biệt” rồi quay gót.
    Tôi cảm thấy mình hơi bất nhẫn, định gọi anh ta lại, không ngờ tự anh
    đã quay lại. Anh đến trước mặt tôi, đưa túm nho khô ra, nói: “Thưa ngài!
    Tôi mang thứ này đến cho cô bạn bé bỏng của tôi. Ngài có thể thay tôi trao
    món quà này cho cháu được không, thưa ngài?”
    Tôi nhận lấy túm nho khô, đang định trả tiền thì anh ta nắm lấy tay tôi,
    nói:
    - Ngài thật nhân từ, thưa ngài! Tôi sẽ nhớ ngài mãi mãi. Ngài không
    cần trả tiền cho tôi đâu. Ngài có cô con gái thật đáng yêu, ở quê tôi cũng có

    một đứa con gái như vậy. Tôi nhớ cháu quá nên tặng con gái ngài chút quà
    này chứ đâu phải cần tiền ạ.
    Nói tới đây anh ta thò tay vào túi áo lấy ra một tờ giấy nhỏ, nhàu nhò,
    bẩn thỉu, trải ra trên bàn. Trên tờ giấy là một dấu lăn tay nhỏ xíu. Không
    phải là ảnh cũng không phải là bức họa, nó chỉ là một dấu lăn tay bằng mực
    đen đã phai màu. Anh ta giữ mãi cái dấu lăn tay bé nhỏ của con gái trong 8
    năm dằng dặc ngồi tù!
    Nước mắt tôi lặng lẽ trào ra. Tôi quên hẳn anh ta chỉ là một tiểu thương
    nhập cư nghèo khổ, còn tôi là... mà không, không phải... Liệu tôi có gì đáng
    tự hào hơn anh ta? Anh ta cũng là một người cha.
    Chính dấu lăn tay của con gái người Kabul đó đã khiến tôi nghĩ tới
    Sakula. Tôi liền gọi cháu ra. Mọi người cố ngăn lại nhưng tôi không nghe.
    Sakula bước ra phòng khách. Cháu mặc bộ váy áo cưới màu hồng, giữa
    trán điểm một nốt son nhựa đàn hương, trang điểm thành cô dâu, e lệ đứng
    trước mặt người khách mới tới.
    Nhìn cảnh tượng ấy người Kabul lộ rõ vẻ kinh ngạc. Anh ta cảm thấy
    không còn tự nhiên như ngày nào với cô bé Sakula bé bỏng nữa. Nhìn
    Sakula một hồi lâu, Ôsaman mỉm cười hỏi: “Cô bé ơi, cháu sắp đến công
    công gia của cháu phải không nào?”
    Hiện tại Sakula đã biết công công gia là thế nào rồi, con bé đỏ mặt, e
    thẹn cúi đầu.
    Tôi nhớ lại lần gặp nhau đầu tiên giữa con gái tôi và người tiểu thương
    Kabul này, cảm thấy buồn buồn. Sau khi Sakula vào nhà trong, Ôsaman
    thở dài khe khẽ và ngồi bệt xuống đất. Anh ta chợt nghĩ, suốt 8 năm đằng
    đẵng ở trong tù, con gái anh nhất định đã lớn lên, khác trước nhiều lắm,
    mà trong ngần ấy thời gian lẽ nào bản thân nó không phát sinh ra biến cố
    gì?
    Tiếng nhạc của buổi hôn lễ vang lên, những tia nắng vàng ấm áp lan tỏa
    khắp nơi, Ôsaman ngồi đây miên man nhớ tới những dãy núi điệp trùng ở
    quê nhà...
    Tôi đưa cho Ôsaman một tờ ngân phiếu, nói:
    - Hãy về quê đi Ôsaman, về với đứa con gái yêu quý của anh đi! Chúc
    cho cuộc gặp gỡ giữa hai cha con vui vẻ! Đó chính là hạnh vận mà anh đã
    mang lại cho con gái tôi đấy Ôsaman ạ!

    Do trích bớt một phần kinh phí cho Ôsaman, hình thức buổi hôn lễ của
    Sakula có giảm đi đôi chút. Không còn nhiều đèn điện trang trí nữa, tôi
    cũng không thuê đội quân nhạc giúp vui. Cánh phụ nữ trong nhà thất vọng
    lắm nhưng tôi lại cảm thấy rất hài lòng: Buổi tiệc thật tuyệt vời, và vinh
    hạnh nữa, bởi lẽ, tôi đang nghĩ tới, ở nơi xa xôi kia sẽ có cuộc trùng phùng
    cảm động giữa một người cha hết mực yêu thương con với đứa con gái độc
    nhất của mình sau tám năm trời xa cách...

    CÔ GÁI TRÊN TÀU HỎA
    Bangde (Ấn Độ)

    Đoàn tàu hỏa bắt đầu chuyển bánh, trong toa chỉ có mỗi một mình tôi.
    Cho đến lúc tàu dừng ở ga đầu tiên, mới có thêm một cô gái lên tàu. Hai
    ông bà già tiễn cô gái có lẽ là cha mẹ cô thì phải, dường như họ rất không
    yên tâm về chuyến đi này của cô. Bà mẹ cứ căn dặn con phải để hành lý
    chỗ nào, bất kể trường hợp nào cũng không được thò đầu qua cửa sổ khi
    tàu đang chạy, không được bắt chuyện với người lạ, vân vân...
    Bởi tôi là người mù nên không sao hình dung được diện mạo của cô
    gái, nhưng từ tiếng “lẹt xẹt” phát ra sau mỗi bước chân của cô, tôi nhận ra
    cô ấy đi dép lê. Tự nhiên tôi lại thích nghe tiếng cô ấy nói.
    Tàu tiếp tục chuyển bánh, tôi hỏi cô gái:
    - Cô có đi Dexiladun không?
    Có lẽ do tôi ngồi trong một góc tối nên tiếng nói của tôi khiến cô gái
    giật mình. Cô bất giác thốt lên khe khẽ: “Tôi không biết là ở đây có
    người”.
    Đúng vậy. Đôi mắt của những người bình thường đôi khi nhìn sự vật
    trước mặt mà không hề thấy gì, chắc hẳn là có lý do, bởi những gì họ cần
    nhìn là quá nhiều. Ngược lại, người mù cả hai mắt lại có thể dựa vào cảm
    quan để nhận biết sự vật xung quanh.
    - Thoạt đầu tôi cũng không trông thấy cô - Tôi nói - Nhưng tôi nghe
    thấy cô lên tàu.
    Tôi nghĩ, chỉ cần ngồi im chỗ cũ, cô ấy nhất định không phát hiện ra
    được tôi là một người mù.
    - Em đến Salalanpo thì xuống tàu, - Cô gái nói - Cô em sẽ ra ga đón em.
    Thế còn chị, chị đi đàu vậy?
    - Tôi đi Dexiladun, sau đó đi tiếp đến Musuli - Tôi đáp.
    - Hay quá! Em cũng muốn đi Musuli. Em thích những dãy núi điệp
    trùng ở đó, nhất là vào tháng mười.

    - Đúng thế. Tháng mười được coi là mùa vàng ở Musuli mà!
    Nói ra điều này, trong óc tôi liền hiện ra cảnh sắc tuyệt vời mà tôi từng
    nhìn thấy trước khi bị hỏng mắt. Và, tôi thốt lên thành lời, chia sẻ niềm vui
    với cô gái mới gặp: “Những thảm hoa hướng dương vàng rực ngập tràn
    các triền núi. Không khí se se lạnh. Đêm đến, ngồi bên đống lửa uống một
    chút rượu brandy, bao nhiêu du khách dù đã đi xa vẫn không sao quên được
    chuyến du lịch đầy quyến rũ đến nơi này!”
    Cô gái im lặng không nói gì, phải chăng cô cũng cảm động bởi những
    gì tôi nói, hay là cô chỉ coi tôi là một người quảng giao có nhiều thiện cảm?
    Đoạn, tôi buột miệng hỏi một câu thật khờ khạo:
    - Bên ngoài trời thế nào hả cô?
    Hình như cô gái không chú ý lắm tới câu hỏi của tôi. Lẽ nào cô đã phát
    hiện ra tôi là một kẻ mù lòa? Tuy nhiên, một câu nói của cô đã giúp tôi lập
    tức xóa đi sự nghi ngờ của mình, cảm thấy yên tâm hơn:
    - Chị nhìn qua cửa sổ, chẳng phải là biết ngay sao? - Giọng nói của cô
    thật tự nhiên, dễ chịu!
    Tôi men theo băng ghế ngồi đến cạnh cửa sổ toa tàu, ngồi xuống, làm
    như là đang thưởng thức phong cảnh bên ngoài. Trong trí tưởng tượng của
    tôi, những dãy cột điện hai bên đường lùi nhanh về phía sau.
    - Chị nhìn thấy chưa? - Cô gái hỏi.
    Tôi chầm chậm đáp:
    - Cây cối chuyển động còn chúng ta thì lại đứng yên.
    - Đúng như vậy đấy - Cô gái phụ họa.
    Rồi cả hai lại im lặng một hồi lâu. Tôi lên tiếng trước:
    - Chị thấy em có một khuôn mặt rất ưa nhìn, em gái ạ - Tôi thân mật
    nói. Tôi không sợ cô gái giận, bởi tôi biết con gái rất ít người không thích
    được khen!
    Cô gái bật cười, tiếng cười trong veo như tiếng chuông ngân.
    - Chị nói thế làm em buồn đấy. Ai cũng bảo em đẹp, nghe mãi đâm
    chán!
    Nói vậy, chắc cô ta đẹp lắm! Tôi thầm nghĩ và nói luôn:
    - Thì đúng thế còn gì? Khuôn mặt ưa nhìn thì đương nhiên là đẹp rồi!

    - Chị thật biết cách làm cho người khác vui đấy nhỉ! Cô gái nói Nhưng làm sao chị biết được điều đó?
    - Tàu sắp đến ga rồi. Cho tôi xin lỗi vì đã đường đột làm cho cô mất
    vui!
    - Cám ơn trời đất! May mà đường không đến nỗi xa lắm! Nếu phải
    ngồi tàu thêm vài ba tiếng nữa, chắc chín nhừ người ra mất!
    Lạ thế! Chỉ cần nghe giọng nói của cô ấy, tôi ngồi tàu mấy tiếng cũng
    chẳng sao! Giọng nói của cô gái vừa réo rắt, vừa dịu dàng êm ái, có sức lôi
    cuốn lạ lùng. Tôi nghĩ, chỉ cần xuống tàu là cô ấy có thể quên cuộc gặp gỡ
    ngắn ngủi này, nhưng tôi thì không.
    Tiếng còi tàu vang lên một hồi dài. Đoàn tàu từ từ chạy chậm lại. Cô
    gái đứng lên thu dọn hành lý. Tôi không biết là cô ấy vấn tóc, hay để tóc
    xõa ngang vai? Có lẽ là cắt tóc ngắn.
    Đoàn tàu từ từ vào ga. Mùi nước hoa thoang thoảng từ mái tóc cô gái.
    Tôi muốn đưa tay vuốt tóc cô nhưng cô đã bước đi, chỉ vương lại một chút
    hương thơm dịu nhẹ.
    Sân ga ồn ào hẳn lên. Một chàng trai hấp tấp bước lên tàu rồi đóng
    sầm cửa khoang tàu lại. Tôi trở về chỗ ngồi. Còi tàu vang lên, đoàn tàu
    tiếp tục chuyển bánh.
    Tàu chạy mỗi lúc một nhanh, bánh xe rít trên đường sắt dập dình tạo
    nên một tiết tấu vui tai. Tôi dò dẫm đến bên cửa sổ, ngồi xuống nhìn ra
    ngoài. Chắc trời đã sáng, nhưng với tôi thì vẫn chỉ là đêm đen. Lúc này tôi
    lại có một bạn đồng hành mới, có thể sẽ có tiết mục mới đây.
    - Xin lỗi! Cô gái vừa xuống tàu là gì với chị? Thực tình mà nói, tôi
    không tưởng tượng nổi vì sao cô ấy lại hấp dẫn đến thế? - Chàng trai có vẻ
    ngượng ngùng nói.
    - Cô gái ấy rất có ý tứ, lại rất dễ thương! - Tôi nói - Anh có thể nói cho
    tôi biết tóc cô ấy dài hay ngắn không?
    - Tôi không chú ý lắm - Anh chàng dường như có vẻ khó hiểu trước
    câu hỏi của tôi - Nhưng tôi lại rất chú ý tới đôi mắt của cô ấy, đôi mắt thật
    dài, thật đẹp... tiếc là... nó chẳng có tác dụng gì đối với cô ấy cả. Cô ấy bị
    mù, chị không nhận ra sao?

    TRĂNG KHUYẾT
    Yuanni (Indonesia)

    Sáng sớm, ra đi từ thị trấn, ngồi ô tô suốt tám tiếng đồng hồ, cô mới
    đến nơi, bấy giờ trời đã về chiều. Ráng chiều đỏ sẫm bao phủ cả bầu trời
    như một tấm võng cực lớn vây hãm cô. Toàn thân cô rã rời, mệt mỏi, lòng
    đầy thấp thỏm lo âu, lủi thủi bước đi trong ánh chiều tà. Cô mong cho con
    đường cứ dài ra mãi để cô không bao giờ tỉnh mộng!
    Cô vừa đi vừa tự hỏi: Đi? Không đi? Trong sự dằn vặt vật vã ấy, ngôi
    nhà đầy ám khí như bị bóng đè kia đột nhiên hiện ra trước mặt. Cô chần
    chừ dừng lại trước cửa. Cánh cửa bỗng lặng lẽ mở ra không có lấy một
    tiếng động. Một người đàn ông còn khá trẻ và rất đẹp trai đứng đó, đôi mắt
    đen nhánh, sâu thăm thẳm. Đôi mắt ấy, trong phút chốc dậy lên những đợt
    sóng lừng ào ạt úp chụp xuống người cô! Nhìn vào đôi mắt ấy, trước mắt
    cô bỗng tối sầm lại, cô lảo đảo như sắp ngã. Người đàn ông đưa tay đỡ cô
    lại, nhưng cô giãy nảy lên như chạm phải bỏng, đẩy vội anh ta ra. Người
    anh ta cứng đờ như bị giội chậu nước lạnh. Khi trấn tĩnh lại, những đợt
    sóng lừng trong mắt anh ta trở nên yên tĩnh và bình thản. “Từ xa anh đã
    nhìn thấy em tới nên ra mở cửa cho em - Người đàn ông bình tĩnh nói - Em
    vào nhà đi!”.
    Cô lặng lẽ bước theo anh ta vào nhà, đứng lại sau khuôn cửa. Một thứ
    mùi quen thuộc xộc vào mũi khiến cô bất giác hít một hơi dài, đưa mắt
    nhìn bộ bàn ghế quen thuộc. Con búp bê bằng sứ và chiếc hộp nhạc hình
    đàn dương cầm trong tủ đựng đồ trang sức vẫn nguyên chỗ cũ, tự nhiên hai
    dòng nước mắt cô ứa ra lăn dài trên má. Đây đã từng là nhà của cô!
    Lúc này cô trở thành một người khách đang ngồi nghiêm trang trên bộ
    sofa, nhìn lướt khắp gian phòng. Trong phòng chỗ nào cũng có ảnh của mẹ,
    người trong ảnh được tạo dáng theo nhiều kiểu khác nhau như một minh
    tinh màn bạc, trông thật chối mắt! “Ngày trước mình có cảm giác đó
    không?” - Cô tự hỏi. Người mẹ xinh đẹp của cô sinh cô vào năm mới hơn
    mười sáu tuổi, sau đó ly dị chồng. Cô sống với mẹ. Dạo đó bạn trai của mẹ


    cô nhiều như cá ấn trên sông, cô chẳng quan tâm, chỉ chuyên chú vào việc
    học hành.
    Người đàn ông đem cốc nước trà đặt trước mặt cô, do dự một chút rồi
    ngồi xuống phía đối diện, nhìn cô chăm chăm với thần thái của một người
    có bao điều muốn nói mà chưa nói được! Cô cũng nhìn anh ta, sóng lòng
    từng đợt từng đợt cuộn trào mãnh liệt, dội mãi vào thân đê đã có chỗ rạn
    vỡ của cô. Hai người đắm đuối nhìn nhau trong khoảnh khắc, chợt bàng
    hoàng nhận ra giữa họ lúc này cách nhau thăm thẳm như trong buổi hồng
    hoang mờ mịt của đất trời!
    Cô im lặng hồi lâu, cảm thấy như có vô số những ánh mắt nhìn xoáy
    vào hai người. Cô ngẩng lên tìm kiếm nơi phát ra những ánh nhìn ấy - đó
    chính là những bức ảnh của mẹ cô trên tường! Cô hận nụ cười và ánh mắt
    ấy biết bao! Người đàn ông cũng nhìn những bức ảnh trên tường, và,
    không hẹn mà gặp, cả hai cùng thốt lên “Sao lại như thế được?”. Nói xong,
    họ lại trầm ngâm như trước.
    Rất lâu sau cô hỏi:
    - Mẹ đâu? Mẹ thế nào rồi?
    Người đàn ông im lặng một lát mới lên tiếng:
    - Biết em thế nào cũng về, bà ấy đi chợ rồi.
    Cô nhìn người đàn ông tỏ vẻ nghi ngờ, đoạn lẩm bẩm:
    - Bà ấy lại lừa em rồi, lừa em nữa rồi! Chắc chắn bà ấy không hề bị xe
    tông!
    Cô vụt đứng dậy, mặt đỏ bừng, gằn giọng: “Em về đây!”
    Nói xong cô hấp tấp bước ra cửa, bị vấp vào ngạch cửa, suýt ngã. Cô
    đứng thẳng lại, ngẩng đầu nhìn lên bức ảnh cưới được phóng to treo bên
    phải cửa chính, trong đó cô dâu có nụ cười tươi rói. Nhìn cô dâu trong ảnh,
    nước mắt cô ngầng ngậng lưng tròng rồi ràn rụa trào ra lăn dài trên má. Đó
    phải là mình chứ? Sao lại là bà ấy - là mẹ mình? Trái tim cô như gào lên,
    khổ đau cùng cực!
    Hồi ấy mẹ rất quan tâm tới cô. Thư từ qua lại giữa cô và bạn trai, cô
    đều đưa cho mẹ xem. Mẹ cô yêu mến và khen ngợi bạn trai cô hết lời, giục
    hai người nhanh chóng kết hôn. Bà còn hứa sẽ lo tiệc cưới cho hai người
    thật chu đáo!...

    Trước hôn lễ một tuần, mẹ nói với cô, theo phong tục, trong thời gian
    này hai người không được phép gặp nhau, cô phải về quê nghỉ ngơi, bồi bổ
    sức khỏe, đợi đến hôm đó bà sẽ cho người về đón. Cô tin theo lời mẹ.
    Chồng chưa cưới của cô là một chàng trai mồ côi cả cha lẫn mẹ, lúc đó
    lại đang làm việc ở xa, hôn sự hoàn toàn trông cậy vào gia đình vợ. Đến
    ngày cử hành hôn lễ, khi mở tấm khăn che mặt của cô dâu anh mới nhận ra
    rằng cô dâu đã bị đánh tráo! Bà bảo với anh rằng, con gái bà đang ốm, bà
    phải tạm thời thay thế. Anh ta tin ngay. Nhưng rồi trong đêm đó bà đã dụ
    dỗ được anh ta! Mãi cho đến lúc cô dâu thật biết được chân tướng, tất cả
    đều đã muộn!
    Nghẹn ngào, rơm rớm nước mắt, đôi bàn tay của người đàn ông đặt
    nhẹ lên vai cô. Qua làn nước mắt, cô nhìn vào mặt anh ta, nức nở:
    - Em về đây làm gì chứ? Chẳng lẽ chỉ để gọi anh một tiếng “cha”?
    Người đàn ông giật nẩy mình, đau khổ quay mặt đi, nước mắt rơi lã
    chã, đôi tay đặt trên vai cô bất chợt rung lên dữ dội! Cô gỡ đôi tay ấy khỏi
    vai mình.
    Ngoài cửa, ráng chiều đã tắt, bầu trời tối sẫm lại. Đêm không sao,
    không trăng. Đèn đường bắt đầu bật sáng. Cô chầm chậm bước đi, rồi
    bước đi nhanh hơn, và chạy. Người đàn ông gọi theo, càng gọi cô càng
    chạy nhanh hơn. Âm vang của tiếng gọi cứ nhỏ dần, nhỏ dần rồi tắt hẳn.
    Vừa hay bóng đêm đen thẫm đã cùng lúc chôn vùi cả nỗi khổ đau và dĩ
    vãng của hai người!

    LA SINH MÔN
    Akutagawa Ryunosuke (Nhật Bản)

    Chạng vạng tối, có một gã nô bộc trú mưa tại La Sinh Môn.
    Bên dưới cổng thành rộng lớn, ngoài hắn ra chẳng còn ai khác, chỉ thấy
    một chú dế đang ngồi chồm chỗm trên đầu một cây trụ tròn to sơn son
    thếp vàng đã tróc lở loang lổ. La Sinh Môn tọa lạc trên đại lộ Chu Tước
    vốn không thiếu khách bộ hành nam thanh nữ tú diện nón lá, mũ mềm trú
    mưa ở đó, nhưng hiện tại chỉ có mỗi một mình gã nô bộc hết thời ở đấy mà
    thôi.
    Vì sao lại như vậy? Vì rằng mấy năm trở lại đây liên tiếp gặp phải
    những trận động đất, gió bão, hỏa hoạn nặng nề, mất mùa đói kém liên
    miên, kinh thành vô cùng thê lương hoang vắng. Theo những gì còn ghi
    chép lại từ thời ấy, hồi đó có những tượng phật bằng gỗ, những hoành phi
    câu đối sơn son thếp vàng bị đập vỡ mang ra bỏ bên đường để bán làm củi.
    Tình cảnh ở kinh thành như thế nên việc tu sửa La Sinh Môn đương nhiên
    là chẳng ai quản nữa. Trong khung cảnh thê lương hoang phế đó, lũ chồn
    cáo và bọn gian manh cướp bóc thừa cơ tìm đến nơi này trú ngụ. Về sau,
    thậm chí đã thành thói quen, những xác chết vô chủ cũng bị đem vứt ở đó.
    Vì vậy, khi mặt trời vừa lặn, không khí nơi đây vô cùng ảm đạm, chẳng ai
    dám đến đây nữa.
    Vậy mà, chẳng biết từ đâu, hàng đàn quạ đen lũ lượt kéo đến. Ban ngày
    chúng lượn lờ trên không om sòm táo tác. Ban đêm chúng đậu la liệt trên
    đỉnh lầu cổng thành. Đương nhiên là lũ quạ tụ tập tới đây để ăn xác người
    chết, chúng thải ra những bãi phân lốm đốm trắng khắp nơi. Gã nô bộc
    mặc chiếc áo khoác quý đã lâu không giặt, đặt đít ngồi lên bậc thềm cao
    nhất trên chiếc cầu thang bảy bậc, tay mân mê vết loét trên má phải, mù
    mờ vô thức chờ mưa tạnh.
    Gã nô bộc trú mưa? Đúng vậy. Nhưng cơn mưa tạnh đã lâu mà gã vẫn
    ngồi im tại chỗ. Đúng ra là gã phải về nhà người chủ cũ, tuy nhiên, cách
    đây bốn năm hôm, ông chủ cũ đã cho gã thôi việc. Như trên đã nói, lúc bấy

    giờ kinh thành rất tiêu điều, cho nên việc gã nô bộc bị lão chủ nhiều năm
    nay cho thôi việc cũng là điều dễ hiểu, nó chẳng khác nào dư ba của một
    cơn sóng lớn mới tràn qua! Chuyện trú mưa của gã nô bộc thực ra chỉ là
    một cái cớ. Gã chẳng biết phải đi đâu. Mà thời tiết hôm nay càng làm cho
    gã u sầu, buồn thảm. Cơn mưa từ đầu giờ thân tới giờ dậu vẫn chưa dứt
    hẳn. Gã nô bộc vẫn không thôi suy nghĩ xem ngày mai sẽ sống thế nào?
    Tiếng mưa rơi trên đại lộ Chu Tước vẫn đều đều vọng đến tai gã.
    Mưa vẫn rơi rào rào trên La Sinh Môn. Từng đám mây đen nặng trĩu
    bay xiên trên đỉnh lầu cổng thành.
    “Phải tìm cách gì để sống chứ, nếu không thì chết đói mất?”; “Bới
    đống rác rưởi có lẫn xác chết tìm cái ăn ư?, ghê rợn quá!”; “Hay là... đi ăn
    cướp? Nhưng liệu mình có dám làm?”. Gã hắt xì hơi một tràng dài rồi đờ
    đẫn bước đi. Màn đêm đã kịp phủ xuống nơi cổng thành, từng luồng gió
    lạnh buốt thổi thốc tới không chút nể nang khách khí khiến cho gã nô bộc
    run lên. Con dế trên cây trụ cổng đã biến mất tự bao giờ.
    Gã nô bộc rụt cổ lại, kéo vạt áo khoác phủ qua vai, nhìn ngó mông lung
    dường như muốn tìm lấy một nơi kín đáo vừa để tránh gió vừa không bị ai
    nhòm ngó, có thể yên tĩnh ngủ qua đêm. Gã chợt phát hiện ra thang gác dẫn
    lên lầu cũng sơn son thếp vàng và khá rộng rãi. Nhìn lên lầu thấy có mấy
    người nhưng họ đều đã chết. Gã đưa tay sờ vào thanh gươm giắt bên lưng,
    nhấc chân với chiếc giày cỏ đặt lên bậc cuối của cầu thang.
    Một lát sau, gã nô bộc nhìn thấy ở khoảng giữa cầu thang có một người
    co rúm tựa một con mèo đang lấm lét nhìn quanh. Dưới ánh lửa lúc mờ lúc
    tỏ gã nhìn thấy một người đàn ông với chòm râu ngắn ngủn và một vết loét
    to bên má phải, đương nhiên đó cũng là một xác chết. Lên thêm mấy bậc
    nữa gã nô bộc nhìn thấy một người đang đốt lửa, ánh lửa chập chờn lay
    động làm ánh lên mơ hồ mấy tấm mạng nhện giăng trên trần lầu. Gã hiểu
    rất rõ, kẻ đốt lên ngọn lửa kia dứt khoát không thể là một người tầm
    thường.
    Gã nô bộc như một con thạch sùng chợt đứng khựng lại, hiểu ra rằng
    chẳng hề dễ dàng chút nào để bước tới bậc cao nhất của cầu thang, liền áp
    sát người xuống thấp, vươn cổ ra thận trọng nhìn lên lầu. Ở đó đang có
    mấy thi thể bỏ ngổn ngang, bừa bãi. Ánh lửa yếu ớt, bập bùng đủ để nhìn
    thấy những xác người cả nam lẫn nữ trần truồng, còm nhom, rách rưới.
    Những thi thể này chẳng có vẻ gì là những người đã từng sống, nó giống

    những con tò he hơn, há hốc mồm, thè lưỡi, tay dang ra nằm sõng soài trên
    đất.
    Mùi hôi thối xộc lên nồng nặc từ đám xác chết khiến gã nô bộc phải bịt
    mũi lại. Nhưng ngay lúc đó gã đột nhiên giật nẩy mình không còn cảm thấy
    hôi thối nữa: ngồi xổm trong đống xác chết là một người đàn bà già nua
    vừa lùn vừa ốm trông như một con khỉ mặc chiếc áo màu cọ xám. Tay phải
    mụ ta cầm cây đuốc bằng cành tùng đang cháy, mắt chăm chăm nhìn vào
    mặt người chết bên cạnh, một người có mái tóc đẹp, hình như là một cô
    gái.
    Gã nô bộc vừa hoảng sợ vừa hiếu kỳ, bị kích động quá mạnh khiến cho
    tim gã như ngừng đập. Quả như người xưa nói, gã sợ đến sởn tóc gáy! Mụ
    già bỏ cây đuốc xuống nền nhà, hai tay nâng đầu người đàn bà đã chết,
    và... giống như khỉ mẹ bắt chấy cho khỉ con, mụ nhổ từng sợi từng sợi tóc
    người chết.
    Nhìn thấy cảnh tượng đó, nỗi sợ hãi trong lòng gã nô bộc từ từ biến
    mất, đồng thời lòng căm giận đối với mụ già mỗi lúc một dâng lên. Chỉ
    trước đây ít phút gã nô bộc không hề do dự khi phải chọn việc có thể chết
    đói thay vì đi làm kẻ cướp thì bây giờ ý nghĩ của gã đã hoàn toàn thay đổi.
    Bó đuốc cành tùng bốc cháy phần phật trên sàn gác.
    Gã nô bộc không hiểu vì sao mụ già lại nhổ tóc người chết và cũng
    chưa thể phán đoán rõ ràng việc đó là đúng hay sai, chỉ biết rằng, trong một
    đêm mưa gió như thế này việc lần mò nhổ tóc người chết là một tội ác
    không thể tha thứ được! Đương nhiên gã nô bộc quên khuấy rằng chính gã
    cũng vừa quyết định sẽ trở thành kẻ cướp.
    Gã nô bộc sờ tay vào chuôi gươm, lao thẳng tới trước mặt mụ già. Mụ
    già kinh hoàng bỏ chạy.
    “Đứng lại!” - Gã nô bộc bước tránh những xác chết dưới chân, đuổi
    theo mụ già, quát lớn. Mụ già cố đẩy gã ra để chạy thoát nhưng gã đã kịp
    kéo tay mụ lại, hai người xoắn lấy nhau trong đống xác chết. Chẳng lâu la
    gì, gã nô bộc đã quật ngã mụ đàn bà xuống sàn gác, giữ chặt hai cánh tay
    gầy guộc của mụ như đang nắm cặp chân gà.
    “Mụ đang làm gì, nói mau! Nếu không ta giết!”
    Gã nô bộc kéo mụ già đứng dậy, rút gươm ra khỏi vỏ, huơ huơ trước
    mặt. Mụ già nín lặng, người run bắn lên như cầy sấy, mắt mở to kinh hãi.

    Gã nô bộc ý thức được rằng, mạng sống của mụ ta hoàn toàn nằm trong tay
    mình, nên hả dần cơn giận và muốn biết chuyện gì đã xảy ra, liền cúi
    xuống nhìn mụ già chậm rãi nói:
    “Ta không phải là quan tuần tra mà chỉ là khách qua đường, không thể
    bắt trói mụ được. Hãy nói cho ta biết vì sao mụ lại ở đây vào lúc này? Cuối
    cùng thì mụ đã làm gì?”
    Với hai hốc mắt đỏ bầm của loài chim ăn thịt, mụ già ngước nhìn gã nô
    bộc, thở hổn hển và phát ra một giọng khàn khàn như loài quạ:
    “Nhổ tóc... Nhổ tóc... để làm tóc giả mà...”
    Nghe mụ già trả lời, gã nô bộc cảm thấy rất thất vọng, gã thấy khinh
    miệt hơn là căm giận. Thấy thái độ của gã nô bộc có dịu đi đôi chút, mụ già
    vừa nắm chặt lọn tóc của người chết vừa phát ra cái giọng oàm oạp như cóc
    nhái, phân trần:
    “Nhổ tóc người chết là không đúng rồi, có điều, những người này, lúc
    sống họ cũng đã từng làm những nghề thất nhân tâm như vậy. Người đàn
    bà mà lão nhổ tóc đây lúc trước đã bắt rắn lấy t...
     
    Gửi ý kiến

    Sách điện tử – người bạn đồng hành của thế hệ hiện đại

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS PHÙ LỖ - PHÚ THỌ!