Sống Đơn Giản Cho Mình Thanh Thản - Chương 1
Truyện Kiều Và Những Kỷ Lục

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 03h:18' 24-04-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 03h:18' 24-04-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
LỜI NÓI ĐẦU
CHO BỘ SÁCH ĐIỆN TỬ eBOOK
NGHIÊN CỨU TRUYỆN KIỀU
Của Tác giả Phạm Đan Quế
Hai quyển sách đầu tiên nghiên cứu về Truyện Kiều của tác giả Phạm Đan Quế được Nhà xuất bản Hà
Nội cho ra mắt năm 1991. Sau đó là các nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, NXB Văn nghệ Thành phố
Hồ Chí Minh, NXB Văn học rồi NXB Giáo dục ấn hành những cuốn sách tiếp theo. Hơn mười năm
sau (2002), Nhà xuất bản Thanh niên cho in hai quyển sách mới khá độc đáo là Truyện Kiều đọc
ngược và Lục bát Hậu Truyện Kiều và sau đó cho tái bản cùng in mới toàn bộ 15 tác phẩm viết về
Truyện Kiều của ông trong vòng 3 năm 2002-2005.
Đến nay đã một thập niên nữa trôi qua, để hướng tới Kỷ niệm 250 năm năm sinh Đại Thi hào Nguyễn
Du, cũng là dịp UNESCO - Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc vinh danh nhà
thơ là Danh nhân văn hóa thế giới, năm 2013, Nhà xuất bản Thanh niên lại vừa cho ra mắt hai tác
phẩm mới rất đặc biệt của cùng tác giả là Thế giới nghệ thuật Truyện Kiều và Bài thơ vịnh Kiều độc
đáo và cách làm thơ thuận nghịch độc, vừa đạt kỷ lục là Bài thơ có nhiều cách đọc nhất Việt Nam, với
1.728 cách đọc là 1.728 bài dẫn xuất, đều là những bài thơ cổ phong.
***
Hướng tới Lễ Kỷ niệm, Công Ty Cổ phần Sách và Văn hóa Phương Nam chúng tôi cho ra mắt Bộ sách
Điện tử eBOOK NGHIÊN CỨU TRUYỆN KIỀU của tác giả Phạm Đan Quế đã xuất bản trong 22 năm
qua từ 1991 đến 2013, để quý vị độc giả có đầy đủ tư liệu tham khảo[1]. Bộ sách gồm 18 tác phẩm
theo mấy hướng tiếp cận sau đây:
I. Truyện Kiều và nguồn gốc với 4 quyển:
1. Truyện Kiều đối chiếu
2. Truyện Kiều và Kim Vân Kiều Truyện
3. Tìm hiểu điển tích Truyện Kiều
4. Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Kiều lược chú)
II. Văn hoá Kiều với 6 quyển:
1. Bình Kiều, vịnh Kiều, bói Kiều
2. Bói Kiều như một nét văn hóa
3. Đố Kiều, nét đẹp văn hóa
4. Tập Kiều, một thú chơi tao nhã
5. Từ lẩy Kiều, đố Kiều... đến các giai thoại về Truyện Kiều
6. Bài thơ Vịnh Kiều độc đáo và cách làm Thơ Thuận nghịch độc.
III. Truyện Kiều và lịch sử tiếp nhận với 4 quyển:
1. Truyện Kiều và các nhà nho thế kỷ XIX
2. Truyện Kiều trên sách báo thế kỷ XX
3. Truyện Kiều đọc ngược
4. Lục bát hậu Truyện Kiều
IV. Tìm hiểu nghệ thuật Truyện Kiều với 4 quyển:
1. Về những thủ pháp nghệ thuật trong văn chương Truyện Kiều
2. Thế giới nhân vật trong Truyện Kiều
3. Truyện Kiều và những kỷ lục
4 Thế giới Nghệ thuật Truyện Kiều
Riêng với quyển Truyện Kiều và những kỷ lục, trong bản này, tác giả có bổ sung thêm vào PHỤ LỤC
về mấy bài báo liên quan đến kỷ lục Truyện Kiều và Danh mục những kỷ lục về Truyện Kiều đã được
Trung Tâm Sách Kỷ lục Việt Nam Vietking xác lập từ năm 2005 đến 2013, để quý vị độc giả có tư
liệu tham khảo. Để đỡ trùng lặp, tác giả cũng lược bỏ Phụ lục Thử điểm mấy nét trong Truyện Kiều
dưới cái nhìn cấu trúc –thống kê mà quý vị có thể xem trong quyển Thế giới nghệ thuật Truyện Kiều.
Trong quyển này, để minh họa cho những kỷ lục về Truyện Kiều, tác giả phải tóm lược những phần
chính của hiện tượng văn hóa Kiều (Tập Kiều, bói Kiều, đố Kiều…) và nhiều lĩnh vực khác nhau, nên
nội dung có những trùng lặp đã đề cập đến trong những quyển khác đã viết về Truyện Kiều, mong quý
vị độc giả thể tình và thông cảm.
Cùng với hai quyển sách mới in vừa qua, những tác phẩm của ông Phạm Đan Quế đã nghiên cứu
Truyện Kiều một cách khá toàn diện và hết sức công phu, qua bao năm tháng miệt mài bên kiệt tác vô
song của Đại thi hào mà nhân dân ta hằng yêu quý, Công Ty Cổ phần Sách và Văn hóa Phương Nam
chúng tôi xin được trân trọng giới thiệu cùng quý vị độc giả gần xa, mong được đóng góp một phần
vào dịp Lễ kỷ niệm long trọng này.
CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH VÀ VĂN HÓA
PHƯƠNG NAM
[1] Vì mỗi quyển là một đề tài riêng biệt, được viết ra tại từng thời điểm, nên nhiều khi có những chỗ
trùng lặp, dù đã lược bớt một số đoạn, tác giả về cơ bản vẫn giữ nguyên đầy đủ nội dung từng quyển
sách như trong ấn bản lần đầu, vì không phải ai cũng có đủ cả bộ sách, mong quý vị độc giả thể tình và
thông cảm cho.
Cùng Bạn Đọc
Mười lăm năm mới bây giờ là đây!
(Câu Kiều số 3138)
Vâng! Thế là đã mười lăm năm trôi qua, kể từ năm 1991, khi hai quyển sách đầu tiên chúng tôi viết về
Truyện Kiều ra đời: Truyện Kiều đối chiếu và Bình Kiều, vịnh Kiều, bói Kiều (NXB Hà Nội 1991).
Thực ra công trình thứ hai là chuyên luận TRONG NỀN VĂN HOÁ KIỀU được in thành 3 quyển mà
để ra mắt quý vị độc giả phải mất đúng 10 năm (1991-2000), với quyển thứ hai Tập Kiều – một thú
chơi tao nhã (NXB Văn hóa Thông tin 1994) và quyển thứ ba Từ lẩy Kiều, đố Kiều… đến các giai
thoại về Truyện Kiều (NXB Văn học 2000).
Về Văn hóa Kiều, chúng tôi còn viết hai quyển nữa là Bói Kiều như một nét văn hóa và Đố Kiều, nét
đẹp văn hóa mới được NXB Thanh Niên cho ra mắt trong năm vừa qua 2004.
Theo hướng văn học so sánh, chúng tôi viết thêm quyển Truyện Kiều và Kim Vân Kiều Truyện (NXB
Văn học 2000) đi vào cụ thể chi tiết hơn để thấy rõ thiên tài của thi hào Nguyễn Du khi từ một tác
phẩm chỉ có cốt truyện hay của Trung Quốc sáng tạo nên một tuyệt phẩm kỳ diệu có thể so sánh với bất
kỳ kiệt tác nào của các văn hào bậc thầy trên thế giới.
Về lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều, chúng tôi sưu tập và nghiên cứu trong 4 quyển: Hai quyển theo cùng
một hướng được xuất bản cách nhau cũng đúng 10 năm là Truyện Kiều và các nhà nho thế kỷ XIX
(NXB Văn Nghệ Tp Hồ Chí Minh 1994) – Truyện Kiều trên báo chương thế kỷ XX (NXB Thanh Niên
2004) và hai quyển nói lên nét độc đáo của Truyện Kiều: Truyện Kiều đọc ngược và Lục bát hậu
Truyện Kiều cùng do NXB Thanh Niên ấn hành năm 2002, hai quyển sách mà khi biên soạn chúng tôi
đã nghĩ đến việc đề đạt hai kỷ lục thế giới với Truyện Kiều.
Chúng tôi lại tiếp tục đi sâu vào nghệ thuật Truyện Kiều trước hết bằng 3 tác phẩm: Tìm hiểu điển tích
Truyện Kiều (NXB Văn Học 2000), Về những thủ pháp nghệ thuật trong văn chương Truyện Kiều
(NXB Giáo Dục 2002) và quyển thứ 15 là Thế giới nhân vật Truyện Kiều.
Đặc biệt, theo yêu cầu của Trung tâm sách Những kỷ lục Việt Nam VIETBOOKS đầu năm 2005, quyển
Truyện Kiều và những kỷ lục này ra đời cũng là một bước mới trong việc vinh danh thi hào Nguyễn Du
trên trường quốc tế.
***
Đã từ lâu khi nghiên cứu về Văn hóa Kiều cách đây mười lăm năm, chúng tôi bắt đầu chú ý đến những
điểm độc đáo của Truyện Kiều. Đi sâu vào nghiên cứu, chúng tôi càng thấy những điều này ngày càng
phong phú thêm để ở một khía cạnh nào đó có thể đề cập đến Truyện Kiều như “kiệt tác của những kỷ
lục”. Chúng tôi mạnh dạn nêu thành một bài viết trong Phụ lục VI, quyển Truyện Kiều trên báo chương
thế kỷ XX (Nxb Thanh Niên 2004) dưới dạng một bài báo chưa đăng. Ngày 10-11-2004, chúng tôi đã
ký với Trung tâm sách Những kỷ lục Việt Nam (VIETBOOK) một bản ghi nhớ về hợp tác và công bố
những kỷ lục của Truyện Kiều mà chúng tôi đã phát hiện và muốn minh chứng qua những quyển sách
đã viết về Truyện Kiều.
Chúng tôi biên soạn quyển sách này với hy vọng mong nuốn quý vị độc giả có một cái nhìn toàn cục và
cụ thể để càng thêm yêu quý kiệt tác thiên tài của Đại thi hào Nguyễn Du.
Sách được chia làm ba phần:
Phần thứ nhất. Truyện Kiều và những kỷ lục thế giới gồm 5 chương:
Chương I. Thú chơi Tập Kiều
Chương II. 10 bản dịch Truyện Kiều ra tiếng Pháp
Chương III. 7 quyển Hậu Truyện Kiều
Chương IV. Truyện Kiều đọc ngược
Chương V. Văn hóa Kiều
Phần thứ hai. Truyện Kiều và những kỷ lục Việt Nam gồm 10 chương:
Chương I. Tác phẩm đưa nhà thơ lên hàng danh nhân thế giới.
Chương II. Quyển truyện thơ duy nhất dùng để bói.
Chương III. Hiện tượng VỊNH KIỀU
Chương IV. Hiện tượng LẨY KIỀU
Chương V. Quyển sách tạo ra nhiều câu đố nhất
Chương VI. Quyển sách tạo ra nhiều giai thoại nhất
Chương VIII. Bộ phim truyện đầu tiên của Việt Nam: Kim Vân Kiều
Chương IX. Quyển sách nặng nhất ở Việt Nam.
Chương X. Quyển sách dài nhất Việt Nam
Phần thứ ba. Truyện Kiều và hàng chục điểm độc đáo khác.
Một câu hỏi được đặt ra là vì sao Truyện Kiều lại có thể đạt được nhiều kỷ lục đến như vậy? Câu trả
lời bước đầu có lẽ sẽ là ở chỗ chỉ có tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập mà tiếng Hán cổ và
tiếng Việt là những đại diện điển hình, cùng với thể thơ lục bát độc đáo của Việt Nam mới có thể đưa
Truyện Kiều đến với mọi tầng lớp nhân dân để tạo thành hiện tượng văn hóa Kiều với nhiều hình thức
đa dạng và phong phú đến vậy. Và bằng việc nghiên cứu kỹ Truyện Kiều, ta sẽ chứng minh được cái kỳ
diệu và độc đáo của tiếng Việt. Mong rằng vấn đề sẽ được các nhà nghiên cứu tiếp tục làm sáng tỏ
thêm. Chúng tôi vẫn muốn một lần nữa nhắc lại lời của nhà thơ Lưu Trọng Lư trong quyển Đi giữa
những trang Kiều, 1995:
“Truyện Kiều là một sự không cùng. Hôm qua nó là của Phạm Quý Thích, của Chu Mạnh Trinh “ngàn
liễu rung rinh sóng gợn tình”. Hôm nay là của “chúng tôi”. Ngày mai là của các bạn. Và mãi mãi là
của các mẹ, các chị, các em. Truyện Kiều sẽ nối lại những thế hệ tuổi hoa”.
Chúng tôi đã cố gắng trình bày rõ nhưng ngắn gọn những điểm độc đáo của Truyện Kiều, quý vị độc
giả có thể độc thêm ở những quyển sách khác của chúng tôi. Dù sao đây cũng là một việc làm rất mới
nên chắc chắn sách còn nhiều thiếu sót, mong được quý vị - vì lòng ngưỡng mộ Đại thi hào của chúng
ta – mà thể tình và góp ý cho[1]. Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn.
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 20 tháng 12 năm 2004
PHẠM ĐAN QUẾ
[1] Thư góp ý xin chuyển đến địa chỉ: phamdanque@yahoo.com.
PHẦN THỨ NHẤT: TRUYỆN KIỀU VÀ NĂM KỶ LỤC THẾ GIỚI
CHƯƠNG I. THÚ CHƠI TẬP KIỀU
Truyện Kiều là quyển sách duy nhất trên thế giới có được hiện tượng gọi là TẬP KIỀU, chắp nhặt
những câu Kiều ở những chỗ khác nhau để thành nhiều bài thơ mới phong phú đến như vậy. Tập Kiều
đã trở thành một thú chơi đã thu hút biết bao văn nhân thi sĩ với hàng trăm thi phẩm đủ loại từ lục bát,
ngũ ngôn, tứ tự, thất ngôn đến văn tế rồi tập Kiều để dịch Hán thi... trong trên 150 năm qua mà chúng
tôi đã trình bày trong quyển TẬP KIỀU - MỘT THÚ CHƠI TAO NHÃ (1994). Quyển này mới được
bổ sung và in lại lần thứ tư năm 2004 cho thật đầy đủ với nhan đề THÚ CHƠI TẬP KIỀU dày 380
trang . Sách gồm hai phần chính :
Phần thứ nhất : Vấn đề tập Kiều (150 trang) có ba chương :
I. Cách thức tập Kiều
II. Tư liệu tập Kiều
III. Phân loại vần trong Truyện Kiều
Phần thứ hai: Mười sáu bộ vần trong Truyện Kiều (140 trang)
I. Trong các lối chơi văn học của người xưa thì ngoài việc ngâm vịnh thơ phú, Truyện Kiều còn đem
đến cho các bậc văn nhân thức giả một thú chơi vô cùng hấp dẫn và tao nhã, đó là TẬP KIỀU. TẬP
KIỀU là lựa chọn một số câu Kiều - ở những chỗ khác nhau trong 3.254 câu của Truyện Kiều - nối vần
lại được với nhau, tình ý nhất quán để tạo thành một bài thơ mới có ý nghĩa, theo một chủ đề nhất định.
Người ta đã làm rất nhiều bài tập Kiều như vậy. Trước hết chúng tôi xin giới thiệu ở đây một thí dụ.
Chẳng hạn, sau bao năm tháng trôi qua, đến khi tóc đã ngả màu sương, ta mới có dịp trở lại quê nhà
thăm người bạn cũ và ta đọc tặng người bạn cố tri mấy câu tập Kiều trong tình cảnh ấy:
BÀI TẬP KIỀU
Câu Kiều
số
số
Trăm năm trong cõi người ta
1
Nhìn xem phong cảnh nay đà khác
2744
xưa
Quản bao tháng đợi, năm chờ
553
Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm
bao
3014
Những là rày ước, mai ao
3069
Như nung gan sắt, như bào lòng
son
2832
Dù cho sông cạ đá mòn
1975
Lần lừa ai biết hãy còn hôm nay
324
Đến bây giờ mới thấy đây!
2281
Những bài tập Kiều như vậy có thể dài hay ngắn là tùy theo yêu cầu cụ thể và thường có ba mức:
1. Từng câu Kiều dùng trong toàn bài đều được giữ nguyên như trong văn bản Truyện Kiều. Loại này
chỉ có thể là thơ lục bát. Trong các bài này, tất cả các câu Kiều đều được giữ nguyên. Bài tập Kiều của
Lý Văn Phức tóm lược hồi 20 của Truyện Kiều năm 1847 là một thí dụ:
Kiều của Lý Văn Phức tóm lược hồi 20 của Truyện Kiều năm 1847 là một thí dụ:
Hồi thứ 20
Câu Kiều
TÁI HỒI KIM TRỌNG
số
Nguyên người quanh quất đâu xa
1
2
3
4
Người còn, sao bỗng làm ma khóc 0147
người
2978
Thấy lời quyết đoán hẳn hoi
1031
Duyên ta mà cũng phúc trời chi
không
2694
5
Được rày tái thế tương phùng
3039
6
Một nhà tấp nập kẻ trong người
ngoài
0760
7
3283
Cùng nhau trông mặt cả cười
8
3012
Nọ chàng Kim đó là người ngày
xưa.
2. Ở mức này, trong một số câu ta có thể cắt bớt một số chữ, đảo lại một câu hay đổi một cụm từ nhưng
để thay vào đó cũng phải là cụm từ của một câu Kiều khác. Như vậy tức là bài chỉ gồm những chữ
trong Truyện Kiều. Để làm thí dụ về việc cắt bớt và thêm vào những câu Kiều có sẵn, ta không thể
không kể đến một bài tập Kiều độc đáo trong xu hướng bài Pháp, đó là bài diễn tả một cô đầm mặc
váy. Đặc điểm của bài này là: Chỉ có bốn câu lục bát trong đó hai câu lục lấy từ hai câu bát của
Truyện Kiều rồi bỏ đi hai chữ, trong khi hai câu bát lại là hai câu lục của Truyện Kiều rồi thêm vào
hai chữ (vẫn là chữ của Kiều). Theo Lãng Nhân thì bài này là của Vũ Khắc Tiệp làm:
Hoa quan phấp phới hà y
Nổi danh tài sắc một thì... xôn xao
Mà cho thiên hạ trông vào
Bấy lâu nghe tiếng má đào... mắt xanh[1]
Như vậy là câu lục đầu được bỏ đi hai chữ rỡ ràng còn câu lục sau bỏ đi hai chữ cũng hay trích từ hai
câu bát của Truyện Kiều. Hai câu bát thì lại thêm vào hai chữ xôn xao và mắt xanh lấy từ các câu Kiều
tiếp theo.
Nói đến tập Kiều, cũng cần kể đến bài tập Kiều năm 1965 của Nguyễn Bính và cái chết đột ngột đến
bất ngờ của nhà thơ, tưởng như ứng nghiệm từ một bài tập Kiều, theo đoạn kết của Chu Văn trong Lời
bạt quyển Tuyển tập thơ Nguyễn Bính như sau:
... "Chuẩn bị số báo tết Nguyên Đán đầu năm Bính Ngọ ấy, chúng tôi cũng dành rất nhiều bài báo về
Nguyễn Du và Truyện Kiều. Hôm duyệt bài báo Tết, Nguyễn Bính khỏe, tươi, tay thủ thủ một tập giấy
mỏng. Anh khoe: Trong một đêm đã viết được một bài tập Kiều vịnh cụ Tiên Điền. Anh không cho ai
xem, chờ lúc ra hội đồng đủ mặt mới trịnh trọng giở trang giấy viết công phu - chữ đẹp như xếp rồi
hắng giọng ngâm nga:
(Bài này được chúng tôi đánh theo những câu Kiều để dễ theo dõi – PĐQ)
KÍNH TẶNG
Câu
NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU Kiều số
Cảo thơm lần giở trước đèn
1
Là nhiều vàng đá phải tìm trăng hoa 0007
2
Trăm năm trong cõi người ta
3176
3
Một thiên tuyệt bút gọi là để sau
0001
4
Khen tài nhả ngọc phun châu
2626
5
Mười lăm năm ấy, biết bao nhiêu
tình
0405
6
3070
Mấy lời ký chú đinh ninh
7
2789
8
Rằng: Tài nên trọng mà tình nên
thương
1900
9
Khen rằng: Giá lợp Thịnh Đường
1455
10
Thì treo giải nhất chi nhường cho ai 0210
11
Ngẫm âu người ấy báu này
12
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào 0490
13
Nặng vì chút nghĩa xưa sau
14
Mà cho thiên hạ trông vào cũng hay 1962
15
Thương vui bởi tại lòng này
3209
16
Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa
trời
3122
17
0297
3233
0131
Lòng thơ lai láng bồi hồi
18
2856
Tưởng Người nên lại thấy Người về
đây.
“Cả hội đồng duyệt bài số báo Tết hôm ấy cùng lặng đi. Một bài tập Kiều thật hay. Nhưng nghe ra...
Đây tuy đề là tặng cụ Tiên Điền mà sao cứ như tâm sự của Nguyễn Bính, tổng kết cái cuộc đời tài hoa
long đong, lận đận và... những câu sau cùng sao mà nó sái quá: Một lời là một vận vào khó nghe....
“Nguyễn Bính cười trừ:
“- Các ông này mê tín! Cứ hay là được rồi. Tôi xin nộp bài này. Một câu, một chữ không sửa.
“Câu chuyện qua đi... Và mọi người chuẩn bị cho một cái Tết bận rộn... Riêng Nguyễn Bính, muốn tạo
một xuân tha hương nữa, lại chọn ngày giáp Tết đến nhà người bạn ở huyện Lý Nhân. Ngờ đâu, đúng
sáng 30 Tết, tại nhà người bạn, bị một luồng gió lạnh, ông rùng mình thổ huyết và ngất xỉu. Gia đình
chủ nhà hết lòng chạy chữa nhưng không kịp nữa rồi...
“Tân thanh đáo để vị thùy thương[2]
(Tân thanh sau hết ngậm ngùi vì ai)
“Nguyễn Bính mất ngay ngày hôm đó tức là 30 Tết (20 tháng 1 năm 1966) khi sắp bước sang tuổi 49."
Trong bài tập Kiều trên, có mấy câu Nguyễn Bính đã thay đổi chút ít như sau:
Câu 13. Nặng vì chút nghĩa xưa sau
Nguyên câu Kiều 3233: Nặng vì chút nghĩa bấy lâu
Câu 15. Thương vui bởi tại lòng này
Nguyên câu Kiều 3209: Tẻ vui bởi tại lòng này
Câu 18: Tưởng Người nên lại thấy Người về đây.
Nguyên câu Kiều 2856: Tưởng nàng nên lại thấy nàng về đây.
3. Mức độ cuối cùng là có thể thay đổi một số chữ trong các câu Kiều để thay vào bằng những chữ
không có trong Truyện Kiều. Đó cũng là trường hợp các từ, các ý mới xuất hiện về sau, thời Nguyễn
Du chưa có. Ta hãy xem bài báo:
TẬP KIỀU CHỐNG MỸ
(Giôn xơn nghe tin Mỹ bị tiêu diệt ở Plây me - Đà Nẵng)
Mảng tin xiết nỗi kinh hoàng
Dẫu là đá cũng nát gan lọ người
Đời mà đến thế thì thôi
Kẻ chê bất nghĩa, người cười vô lương
Bao nhiêu của mấy ngày đường
Đem quân đi bỏ chiến trường như không
Thôi còn chi nữa mà mong
Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào
Ngẫm từ gây việc binh đao
Đống xương Vô Định đã cao bằng đầu
Nghe thôi kinh hãi xiết đâu
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày
Còn thiên Tích Việt ở tay
Nghĩ càng thêm nỗi sởn gai rụng rời
Chước đâu có chước lạ đời
Mênh mông nào biết bể trời nơi nao
Gió cao ngọn lửa càng cao
Thịt nào chẳng nát, gan nào chẳng kinh
Quản chi lên thác xuống ghềnh
Ai ngờ một phút tan tành thịt xương
Ma đưa lối quỷ đưa đường
Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi
Chốc đà mười mấy năm trời
Bao nhiêu vốn liếng đi đời nhà ma
Nghĩ mình phương diện quốc gia
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền
Quá chơi lại gặp hồi đen
Bể sâu bóng cả có tuyền được vay
Cạn lời hồn ngất máu say
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.
TỪ CÔNG[3]
(Tuần báo Văn Nghệ số 13, 1965)
II. Trong lịch sử văn học, nói đến thơ tập Kiều, ai cũng phải nhắc đến những bài tập Kiều của Lý Văn
Phức (1785 - 1849).
Năm 1847, ông vâng mệnh vua Tự Đức đã làm liền hai mươi bài tập Kiều, mỗi bài gồm tám câu lục
bát dựa theo nội dung của hai mươi hồi trong cuốn Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân,
cuốn tiểu thuyết Trung Hoa mà từ đó Nguyễn Du đã sáng tạo nên Truyện Kiều bất hủ của mình
Với Hồi thứ nhất, về cảnh viếng mộ Đạm Tiên, Kim - Kiều gặp gỡ, Lý Văn Phức đã làm bài tập Kiều
sau đây:
Một vùng cỏ áy bóng tà,
Rộn đường gần với nỗi xa bời bời.
Thương thay cũng một kiếp người,
Sẵn đây ta thắp một vài nén hương.
Có người khách ở viễn phương,
Chẳng sân ngọc bội, cũng phường kim môn.
Những là lạ nước lạ non,
Khách đà lên ngựa, người còn ghé theo.
LÝ VĂN PHỨC
Toàn bộ hai mươi bài tập Kiều này đã được chép trong cuốn THANH TÂM TÀI TỬ CỔ KIM MINH
LƯƠNG ĐỀ TẬP BIÊN để nối sau hai mươi bài thơ vịnh Kiều bằng chữ Hán theo từng hồi của vua
Tự Đức và đã được chúng tôi giới thiệu trong quyển Tập Kiều - một thú chơi tao nhã.
Các nhà thơ sau này từ Nguyễn Khuyến, Nguyễn Thượng Hiền, Phan Bội Châu đến Nguyễn Hữu
Khanh, Tản Đà … rồi Nguyễn Bính, Hoàng Trung Thông … đều có làm thơ tập Kiều.
Về công phu tập Kiều, phải kể đến một tác giả đặc biệt, đó là Phan Mạnh Danh, từng tham gia cuộc thi
thơ, bình vịnh Truyện Kiều nổi tiếng năm 1905 ở Hưng Yên. Với một vốn hiểu biết hết sức uyên thâm
về thơ cổ Trung Hoa, trong cuốn Bút hoa thi thảo xuất bản sau khi qua đời năm 1942, ông đã cho
chúng ta được thưởng thức rất nhiều bài tập Kiều đặc sắc khiến nhiều người phải kinh ngạc. Riêng về
tập Kiều để dịch thơ chữ Hán, vào cuối năm 1941 ông để lại mười bài. Ta hãy xem một bài thơ của
Đỗ Phủ trong Đường Thi đã được lựa chọn các câu Kiều để dịch nghĩa như thế nào:
TẶNG HOA KHANH
ĐỖ PHỦ - ĐƯỜNG THI
Cẩm thành ca quản nhật phân phân
Bán nhập giang phong bán nhập vân
Thử khúc chỉ ưng thiên thượng hữu
Nhân gian ninh đắc kỷ hồi văn.
BÀI DỊCH TẬP KIỀU
Đùng đùng gió giục mây vần
Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia
Khúc đâu đầm ấm dương hòa
Ai tri âm đó mặn mà với ai?
Đặc biệt là ông còn chắp những câu cổ thi Trung Quốc để dịch lại rất nhiều đoạn trong Truyện Kiều
tức là làm điều ngược lại: Bài trên đây là tập Kiều để dịch Hán thi thì nay là tập Hán thi để dịch Kiều.
Suốt 4 năm từ 1896 đến 1900, ông đã soạn được tới 688 câu thơ cổ Trung Hoa để dịch 688 câu Kiều,
tức hơn 1/5 tác phẩm. Trong cuốn sách kể trên, ông đã dịch được 46 đoạn, mỗi đoạn bốn câu Kiều
(tức 184 câu) như đoạn:
Đào tiên đã bén tay phàm
Thì vin cành quýt cho cam sự đời
Dưới trần mấy mặt làng chơi
Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa?
đã được dịch bằng bốn câu tập Hán thi như sau (Chữ đậm nghiêng bên phải là nguồn gốc của mỗi câu
thơ):
Bích đào tiên chủng bản phi phàm trong Thi lâm
Đáo thủ hề phương nhiệm nhĩ tham Thập mỹ
Tối thị Lạc Dương hoa hạ khách Ngũ mỹ
Giã ư hoa sự vị tằng am Nhi nữ tình
Còn 252 khổ thơ Kiều được dịch bằng cách chọn các câu thơ chữ Hán tương tự, từ những câu đầu tiên
trong Truyện Kiều như:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
được dịch thành:
Nhân sự bách niên kham thế lệ trong Thi lâm
Toán lai tăng mệnh vi tài đa... Nữ nhi tình
III. Về các thể loại ta có thể kể:
1. TẬP KIỀU LỤC BÁT TIỆT HẠ
KÍNH CÁO QUỐC DÂN
Ví chăng xét tấm tình si
Thiệt đây mà có ích gì đến ai
Vội chi liễu ép hoa nài
Còn thân còn một đền bồi có khi
Sinh rằng: Từ thuở tương tri
Tấm riêng riêng những nặng vì nước non
Trăm năm tính cuộc vuông tròn
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông
Muôn đội ơn lòng.
PHAN BỘI CHÂU
Tạp chí Bách khoa Sài gòn số 17(1957)
2. THẤT NGÔN BÁT CÚ TẬP KIỀU
Rõ nền phú quý bậc tài danh,
Lần bước hài văn bước dặm xanh.
Trên gác Quan Âm mây phủ tán,
Trước lầu Ngưng Bích gió lay mành.
Khen tài nhả ngọc thơ lưng túi,
Sánh giọng quỳnh tương rượu một bình.
Gặp hội trường văn xuân bảng chiếm,
Làm cho đổ quán lại xiêu đình.
NGUYỄN KHUYẾN
3. HÁT NÓI TẬP KIỀU
TRÁCH KẺ BẠC TÌNH
Mưỡu:
Đôi ta chút nghĩa đèo bòng
Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân
Lại đây xem lại cho gần
Hoa xưa, ong cũ mười phân chung tình
Nói: Cửu triệt, trùng phùng vô hạn cảm
Nghĩa đồng tâm đâu nhẽ dám vô tình
Vẳng tai nghe tiếng trống lẫn hồi sênh
Kìa rõ khách ba sinh hay giấc điệp?
Tịch thượng, đê mi lang cố thiếp
Đăng tiền đa tiện thiếp tu lang
Nào những ai:
Khi chăn loan, khi gối phượng,
Khi hẹn ngọc, lúc thề vàng
Nặng vì tình chót phải đa mang
Mà những lúc "đoạn trường" ai sẻ nửa?
Thôi! Chuyện cũ kể làm chi nữa
Phím đàn này sẽ lựa tính tình xưa...
Yêu nhau từ bấy đến giờ!...
Hương Sơn cư sĩ
NGUYỄN HỮU KHANH
4. BÀI PHÚ TẬP KIỀU KHUYẾT DANH
(Bài do Khái Sinh sao lục đăng trên tạp chí Nam Phong, bài tương đối dài, ở đây chúng tôi xin trích
đoạn ngắn)
Kể từ lúc:
Ngọc chưa cài, trâm chưa giắt
Tài sắc gồm hai, phong lưu rất mực
So tay bút pháp, Lan Đình mấy thiếp nào thua;
Lầu bậc cung thương, Hồ cầm một trương ăn đứt
Sắc khuynh quốc, hoa thua liễu kém, nắng mưa gìn giữ xiết bao!
Tuần cập kê, trướng rủ màn che, ong bướm đi về cũng mặc.
Tới tiết Thanh minh:
Quần áo thướt tha, ngựa xe giong ruổi
Trở ra về gặp chàng Kim Trọng, mặn mà thay lan cúc cả hai bên!
Thoắt chiêm bao thấy ả Đạm Tiên, đau đớn nhẽ nhân duyên cùng một hội!
Lênh đênh mặt sóng, đã đành phận gái truân chuyên;
Lắt léo cành thoa, mới biết lòng trời run rủi
Trên tường gấm, ơn lòng quân tử, mở quạt đổi trao;
Dưới lầu son, vắng mặt tri âm, vò tơ bối rối
May làm sao:
Thanh vắng một mình; hôm nay được buổi
Cùng nhau vàng đá mấy lời; dám tiếc tóc tơ một mối
Thôi vẫn tưởng:
Chỉ hồng lá thắm ấy là duyên;
Nào có biết:
Nhị rữa vàng phai đâu đến nỗi
Bỗng phải tai bay vạ gió; quản chi ngọc trắng cát lầm
Ơn chín chữ mong đền gang tấc; thân nghìn vàng đổi lấy ba trăm.
Chẳng ngờ gã Giám Sinh, phong tình là đứa;
Chung lưng con già Tú, buôn bán quanh năm
Kiếp má hồng toan trả trời xanh, sực thấy mấy câu thần mộng;
Doành nước biếc nổi cồn sóng bạc, thêm thương đến khách tri âm
Ai oán nhẽ! ngâm câu tuyệt diệu;
Lạ lùng thay! có tiếng họa ngâm…
5. VĂN TẾ ĐẠM TIÊN CỦA KHÁCH VIỄN PHƯƠNG
(Trích đoạn đầu)
Hỡi ôi!
Bình rơi trâm gãy, cuộc bể dâu trông thấy những đau lòng
Ngọc đắm hương chìm, tủi số kiếp sầu tuôn chừng đứt nối
Trăng già cớ sao độc địa, cầm dây chẳng lựa khách ba sinh
Hóa nhi thật khéo nỡ lòng, đò tạo vội đưa người chín suối.
Nhớ nàng xưa:
Mặt ngọc in sương
Thân vàng pha tuyết
Tài sắc nổi danh một lúc, xôn xao ngoài cửa, biết bao anh yến gần xa
Ca ngâm trải đủ năm cung, rộn rực trong sân, xiết kể bướm ong sớm tối
Bảy chữ, tám nghề làu thuộc, chơi cho liễu chán hoa chê
Đôi mày, chín khúc say sưa, khép mở tóc vò tơ rối
Dìu dập cành chim lá gió, tối đưa Tống Ngọc, sớm rước Trường Khanh
Biết bao bướm lả ong lơi, đêm khoác áo xanh, ngày thờ Mày Trắng
Ngẩn ngơ trận cười suốt đêm
Mê mẩn cuộc vui đầy tháng…
6. KIỀU TỨ TỰ: TRUYỆN KIỀU RÚT GỌN (KIỀU GỌT)
KIỀU TỨ TỰ của cụ Cử Lại Trì Hà Mai Khôi. Tập này đã lấy các câu Kiều rồi cắt ra bốn chữ một để
chắp lại với nhau thành một bài thơ dài gồm những câu chỉ có bốn chữ. Cả bài có 142 khổ thơ có 568
câu lược lại toàn bộ diễn biến của Truyện Kiều. Đây là 15 khổ thơ với 60 câu đầu tiên:
1. Gẫm duyên kỳ ngộ
Tác hợp cơ trời
Làm gương cho khách
Để bia muôn đời.
2. Rủi may âu cũng
Ghét bỏ chi nhau
Nhẹ nhàng nợ trước
Tương phùng kiếp sau.
3. Có nhà Viên ngoại
Vốn dòng nho gia
Một trai con thứ
Hai ả tố nga.
4. Đủ mùi ca ngâm
Nổi danh tài sắc
Phú quí ai bì
Phong lưu rất mực.
5. Vân xem trang trọng
Nét ngài nở nang
Kiều càng sắc sảo
Ngọc nói đoan trang.
6- Lần xem phong cảnh
Trong tiết Thanh minh
Ngổn ngang gò đống
Nô nức yến anh
7- Đạm Tiên nàng ấy
Nấm đất bên đường
Xót người mệnh bạc
Ở dưới suối vàng
8- Đời người đến thế
Trông thấy càng thương
Tần ngần dạo gót
Gặp gỡ giữa đường.
9. Họ Kim tên Trọng
Phong nhã hào hoa
Khách đà xuống ngựa
Kiều nép dưới hoa.
10. Xuân lan thu cúc
Quốc sắc thiên tài
Cùng nhau trông mặt
Ra tình đeo đai.
11. Sinh thì dạo gót
Nàng mới kíp dời
Tựa ngồi bên triện
Nhường có bóng người.
12. Thấy một tiểu kiều
Vâng trình hội chủ
Mặt người vô duyên
Đoạn trường là số.
13. Cứ trong mộng triệu
Xiết nỗi kinh hoàng
Vâng lời khuyên giải
Thật ý lo lường.
14. Bông liễu bay ngang
Con oanh học nói
Là thói hữu tình
Đố ai gỡ mối.
15. Nỗi nàng canh cánh
Gác bóng chênh chênh
Ngổn ngang trăm mối
Duyên nợ ba sinh…
HÀ MAI KHÔI
(Tạp chí Nam Phong số 50 năm 1922)
7. KIỀU NGŨ NGÔN: HỒI I. KIM KIỀU GẶP GỠ
KIM VÂN KIỀU NGŨ NGÔN gồm 1.500 câu ngũ ngôn trích từ những câu Kiều dựa theo trình tự 20
hồi cuốn Kim Vân Kiều Truyện có trích in trong quyển Từ Lẩy Kiều, Đố Kiều... đến các giai thoại về
Truyện Kiều. Ở đây xin giới thiệu 56 câu của hồi I.
Năm Gia Tĩnh triều Minh
Phẳng lặng cả hai kinh
Có nhà Vương Viên ngoại
Gia tư cũng bậc trung
5. Đầu lòng hai chị gái:
Thúy Kiều và Thúy Vân
Cùng yểu điệu thanh tân
Kiều mặn mà sắc sảo
Tài sắc lại phần hơn
10. Hoa ghen thắm, liễu hờn
Đủ thi họa, ca ngâm
Thiên Bạc Mệnh não nhân.
Vương Quan là trai rốt
Cũng là bậc văn nhân.
15. Ngày xuân tiết Thanh minh
Đi dự hội Đạp thanh
Cùng sắm sửa bộ hành
Gặp nấm mồ vô chủ
Sao hương khói vắng tanh.
20. Hỏi ra mồ kỹ nữ
Nàng xưa gọi Đạm Tiên.
Kiều sầu tuôn đứt nối
Khéo bấy là vô duyên
Thương tâm lòng sẵn mối.
25. Hồng nhan tự thuở xưa
Bạc mệnh có ai chừa,
Vội thắp vài nén hương
Tình cờ gặp giữa đường
Kiều lầm rầm khấn vái.
30. Càng ủ dột nét hoa,
Chiều cỏ áy bóng tà
Còn dùng dằng về, ở
Tiếng nhạc vàng đâu đã
Chừng thấy một văn nhân
35. Vài thằng nhỏ theo chân
Cỏ nhuộm non màu áo
Khách xuống ngựa tự tình
Hài văn bước dặm xanh
Tựa cây quỳnh cành dao.
40. Vương quen mặt ra chào
Dưới hoa hai Kiều nép.
Chàng họ Kim tên Trọng
Vốn nết đất văn chương,
Phong tư và tài mạo
45. Phong nhã lại hào hoa.
Chung quanh đất nước nhà
Bậc tài danh phú hậu,
Bóng hồng thấy nẻo xa
50. Gặp được tuần đố lá
Quốc sắc với thiên tài
Mà tình trong như đã:
Chập chờn cơn tỉnh, mê
Chẳng tiện dứt ra về
55. Bóng tà khách lên ngựa
Mà người còn ghé theo...
PHẠM ĐAN QUẾ
8. THƠ THẤT NGÔN: HOA ĐÀO NGÀY TẾT
Đâu bỗng không mua não chuốc sầu;
Sầu người, buồn cảnh, có vui đâu!
Trướng tô giáp mặt, hoa đào vẻ...
Nào! Vạch da cây vịnh bốn câu!
Đào nguyên lạc lối đâu mà đến?
Đây: Kẻ đi muôn dặm một mình!
Khi cúi đầu, khi vò chín khúc
Chân mây mặt đất, một màu xanh.
Tường đông ong bướm đi về mặc,
Ai bấy lâu nghe tiếng má đào.
Mới thấy đây mà lòng đã chắc,
Đào càng treo giá, ngọc càng cao.
Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm...
Sao một lời là một vận vào?
Tơ phím này trông ra ngọn cỏ,
Bao tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao.
VŨ HOÀNG CHƯƠNG
(Tạp chí Bách Khoa - 1973)
9. BẢNG CÁC BỘ VẦN TRONG TRUYỆN KIỀU
Dựa vào luật bằng, trắc trong thơ lục bát và ba qui tắc hiệp vần (bằng) trong thơ tiếng Việt, chúng tôi
tách 3.254 câu thơ trong Truyện Kiều thành 1.627 cặp câu (gồm một câu lục và một câu bát liền nhau,
cùng vần) và sắp xếp lại thành 16 bộ vần và giới thiệu trong quyển Tập Kiều - một thú chơi tao nhã
hay Thú chơi Tập Kiều (Xem 16 bộ vần ở trang 38)
Bộ vần 12 (iêng) chỉ có một khổ là câu 241-242:
Hiên tà gác bóng nghiêng nghiêng
Nỗi riêng, riêng chạnh tấc riêng một mình
Bộ vần 2 (Ai, oi, oai, ôi, ơi, ui, uôi, ươi) là nhiều nhất gồm 266 cặp với 532 câu.
BẢNG 16 BỘ VẦN TRONG TRUYỆN KIỀU
Số
BỘ VẦN
thứ tư
Số cặp Số câu
lục bát thơ
A – oa
1
155
310
2
Ai – oi – oai – ôi – ơi – uôi
266
– ươi
532
3a
Am – ôm – ơm – uôm - ươm 6
12
3b
Ăm – âm
20
40
4a
An – oan – ơn
49
98
4b
Ăn – ân – uân
84
168
5a
Ang – oang – uông – ương –
140
Ăng
280
5b
âng – ưng
25
50
6
Anh – ênh – inh – oanh –
uynh
115
230
7a
Ao – eo êu – iêu – iu – yêu 111
222
7b
Au – âu
87
174
8
Ay – ây – oay – uây
133
266
9
E – ê– I – ia – oe – uê – uy
121
– uya – y
242
10
Em – êm – iêm – im
9
18
11
En – ên – iên – yên – yên
75
150
12
Iêng
1
2
13
O – ô – u – ua
20
40
14
On – ôn – uôn - un
19
38
15
Ong – ông – ung
120
240
16
Ơ – ư – ưa
71
142
Trong 16 bộ vần này (sắp thứ tự theo vần chữ cái) có 4 bộ vần gồm 2 nhóm là các bộ vần 3, 4, 5 và 7
như sau:
- Bộ vần 3 gồm 52 câu trong đó:
3a: Am, ôm, om, uôm, ươm (12 câu)
3b: Ăm, âm (40 câu)
- Bộ vần 4 gồm 268 câu trong đó:
4a: An, ơn, oan (100 câu)
4b: Ăn, ân, uân (168 câu)
- Bộ vần 5 gồm 330 câu trong đó:
5a: Ang, oang, uông, ương (280 câu)
5b: Ăng, âng, ưng (50 câu)
- Bộ vần 7 gồm 396 câu trong đó:
7a: Ao, eo, êu, iu, iêu, yêu (222 câu)
7b: Au, âu (174 câu)
Các vần thuộc họ a, b của cùng một bộ vần cũng có thể nối vần nhưng một số trường hợp hơi cưỡng ép
vì vậy phải để tách riêng (vần ép).
Việc sắp lại thành các bộ vần như thế này sẽ giúp cho những ai muốn làm các bài tập Kiều, vịnh
Kiều,... giảm bớt được rất nhiều thời gian bởi khi cần đến vần nào ta đã có ngay toàn bộ các câu Kiều
thuộc vần đó để lựa chọn, và việc tập Kiều có thể thực hiện được một cách tự động.
Trong bảng trên, 3254 câu Kiều đã được sắp xếp lại thành 16 bộ vần mà chúng tôi đã giới thiệu đầy
đủ trong quyển Tập Kiều - một thú chơi tao nhã, hay quyển Thú chơi Tập Kiều. Trên cơ sở đó ta có
thể làm những bài tập Kiều một cách nhanh chóng và tự động bởi khi cần đến vần nào ta đã có ngay
toàn bộ các câu Kiều thuộc vần đó để lựa chọn.
***
10. GIAI THOẠI VỀ HAI ...
CHO BỘ SÁCH ĐIỆN TỬ eBOOK
NGHIÊN CỨU TRUYỆN KIỀU
Của Tác giả Phạm Đan Quế
Hai quyển sách đầu tiên nghiên cứu về Truyện Kiều của tác giả Phạm Đan Quế được Nhà xuất bản Hà
Nội cho ra mắt năm 1991. Sau đó là các nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, NXB Văn nghệ Thành phố
Hồ Chí Minh, NXB Văn học rồi NXB Giáo dục ấn hành những cuốn sách tiếp theo. Hơn mười năm
sau (2002), Nhà xuất bản Thanh niên cho in hai quyển sách mới khá độc đáo là Truyện Kiều đọc
ngược và Lục bát Hậu Truyện Kiều và sau đó cho tái bản cùng in mới toàn bộ 15 tác phẩm viết về
Truyện Kiều của ông trong vòng 3 năm 2002-2005.
Đến nay đã một thập niên nữa trôi qua, để hướng tới Kỷ niệm 250 năm năm sinh Đại Thi hào Nguyễn
Du, cũng là dịp UNESCO - Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc vinh danh nhà
thơ là Danh nhân văn hóa thế giới, năm 2013, Nhà xuất bản Thanh niên lại vừa cho ra mắt hai tác
phẩm mới rất đặc biệt của cùng tác giả là Thế giới nghệ thuật Truyện Kiều và Bài thơ vịnh Kiều độc
đáo và cách làm thơ thuận nghịch độc, vừa đạt kỷ lục là Bài thơ có nhiều cách đọc nhất Việt Nam, với
1.728 cách đọc là 1.728 bài dẫn xuất, đều là những bài thơ cổ phong.
***
Hướng tới Lễ Kỷ niệm, Công Ty Cổ phần Sách và Văn hóa Phương Nam chúng tôi cho ra mắt Bộ sách
Điện tử eBOOK NGHIÊN CỨU TRUYỆN KIỀU của tác giả Phạm Đan Quế đã xuất bản trong 22 năm
qua từ 1991 đến 2013, để quý vị độc giả có đầy đủ tư liệu tham khảo[1]. Bộ sách gồm 18 tác phẩm
theo mấy hướng tiếp cận sau đây:
I. Truyện Kiều và nguồn gốc với 4 quyển:
1. Truyện Kiều đối chiếu
2. Truyện Kiều và Kim Vân Kiều Truyện
3. Tìm hiểu điển tích Truyện Kiều
4. Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Kiều lược chú)
II. Văn hoá Kiều với 6 quyển:
1. Bình Kiều, vịnh Kiều, bói Kiều
2. Bói Kiều như một nét văn hóa
3. Đố Kiều, nét đẹp văn hóa
4. Tập Kiều, một thú chơi tao nhã
5. Từ lẩy Kiều, đố Kiều... đến các giai thoại về Truyện Kiều
6. Bài thơ Vịnh Kiều độc đáo và cách làm Thơ Thuận nghịch độc.
III. Truyện Kiều và lịch sử tiếp nhận với 4 quyển:
1. Truyện Kiều và các nhà nho thế kỷ XIX
2. Truyện Kiều trên sách báo thế kỷ XX
3. Truyện Kiều đọc ngược
4. Lục bát hậu Truyện Kiều
IV. Tìm hiểu nghệ thuật Truyện Kiều với 4 quyển:
1. Về những thủ pháp nghệ thuật trong văn chương Truyện Kiều
2. Thế giới nhân vật trong Truyện Kiều
3. Truyện Kiều và những kỷ lục
4 Thế giới Nghệ thuật Truyện Kiều
Riêng với quyển Truyện Kiều và những kỷ lục, trong bản này, tác giả có bổ sung thêm vào PHỤ LỤC
về mấy bài báo liên quan đến kỷ lục Truyện Kiều và Danh mục những kỷ lục về Truyện Kiều đã được
Trung Tâm Sách Kỷ lục Việt Nam Vietking xác lập từ năm 2005 đến 2013, để quý vị độc giả có tư
liệu tham khảo. Để đỡ trùng lặp, tác giả cũng lược bỏ Phụ lục Thử điểm mấy nét trong Truyện Kiều
dưới cái nhìn cấu trúc –thống kê mà quý vị có thể xem trong quyển Thế giới nghệ thuật Truyện Kiều.
Trong quyển này, để minh họa cho những kỷ lục về Truyện Kiều, tác giả phải tóm lược những phần
chính của hiện tượng văn hóa Kiều (Tập Kiều, bói Kiều, đố Kiều…) và nhiều lĩnh vực khác nhau, nên
nội dung có những trùng lặp đã đề cập đến trong những quyển khác đã viết về Truyện Kiều, mong quý
vị độc giả thể tình và thông cảm.
Cùng với hai quyển sách mới in vừa qua, những tác phẩm của ông Phạm Đan Quế đã nghiên cứu
Truyện Kiều một cách khá toàn diện và hết sức công phu, qua bao năm tháng miệt mài bên kiệt tác vô
song của Đại thi hào mà nhân dân ta hằng yêu quý, Công Ty Cổ phần Sách và Văn hóa Phương Nam
chúng tôi xin được trân trọng giới thiệu cùng quý vị độc giả gần xa, mong được đóng góp một phần
vào dịp Lễ kỷ niệm long trọng này.
CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH VÀ VĂN HÓA
PHƯƠNG NAM
[1] Vì mỗi quyển là một đề tài riêng biệt, được viết ra tại từng thời điểm, nên nhiều khi có những chỗ
trùng lặp, dù đã lược bớt một số đoạn, tác giả về cơ bản vẫn giữ nguyên đầy đủ nội dung từng quyển
sách như trong ấn bản lần đầu, vì không phải ai cũng có đủ cả bộ sách, mong quý vị độc giả thể tình và
thông cảm cho.
Cùng Bạn Đọc
Mười lăm năm mới bây giờ là đây!
(Câu Kiều số 3138)
Vâng! Thế là đã mười lăm năm trôi qua, kể từ năm 1991, khi hai quyển sách đầu tiên chúng tôi viết về
Truyện Kiều ra đời: Truyện Kiều đối chiếu và Bình Kiều, vịnh Kiều, bói Kiều (NXB Hà Nội 1991).
Thực ra công trình thứ hai là chuyên luận TRONG NỀN VĂN HOÁ KIỀU được in thành 3 quyển mà
để ra mắt quý vị độc giả phải mất đúng 10 năm (1991-2000), với quyển thứ hai Tập Kiều – một thú
chơi tao nhã (NXB Văn hóa Thông tin 1994) và quyển thứ ba Từ lẩy Kiều, đố Kiều… đến các giai
thoại về Truyện Kiều (NXB Văn học 2000).
Về Văn hóa Kiều, chúng tôi còn viết hai quyển nữa là Bói Kiều như một nét văn hóa và Đố Kiều, nét
đẹp văn hóa mới được NXB Thanh Niên cho ra mắt trong năm vừa qua 2004.
Theo hướng văn học so sánh, chúng tôi viết thêm quyển Truyện Kiều và Kim Vân Kiều Truyện (NXB
Văn học 2000) đi vào cụ thể chi tiết hơn để thấy rõ thiên tài của thi hào Nguyễn Du khi từ một tác
phẩm chỉ có cốt truyện hay của Trung Quốc sáng tạo nên một tuyệt phẩm kỳ diệu có thể so sánh với bất
kỳ kiệt tác nào của các văn hào bậc thầy trên thế giới.
Về lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều, chúng tôi sưu tập và nghiên cứu trong 4 quyển: Hai quyển theo cùng
một hướng được xuất bản cách nhau cũng đúng 10 năm là Truyện Kiều và các nhà nho thế kỷ XIX
(NXB Văn Nghệ Tp Hồ Chí Minh 1994) – Truyện Kiều trên báo chương thế kỷ XX (NXB Thanh Niên
2004) và hai quyển nói lên nét độc đáo của Truyện Kiều: Truyện Kiều đọc ngược và Lục bát hậu
Truyện Kiều cùng do NXB Thanh Niên ấn hành năm 2002, hai quyển sách mà khi biên soạn chúng tôi
đã nghĩ đến việc đề đạt hai kỷ lục thế giới với Truyện Kiều.
Chúng tôi lại tiếp tục đi sâu vào nghệ thuật Truyện Kiều trước hết bằng 3 tác phẩm: Tìm hiểu điển tích
Truyện Kiều (NXB Văn Học 2000), Về những thủ pháp nghệ thuật trong văn chương Truyện Kiều
(NXB Giáo Dục 2002) và quyển thứ 15 là Thế giới nhân vật Truyện Kiều.
Đặc biệt, theo yêu cầu của Trung tâm sách Những kỷ lục Việt Nam VIETBOOKS đầu năm 2005, quyển
Truyện Kiều và những kỷ lục này ra đời cũng là một bước mới trong việc vinh danh thi hào Nguyễn Du
trên trường quốc tế.
***
Đã từ lâu khi nghiên cứu về Văn hóa Kiều cách đây mười lăm năm, chúng tôi bắt đầu chú ý đến những
điểm độc đáo của Truyện Kiều. Đi sâu vào nghiên cứu, chúng tôi càng thấy những điều này ngày càng
phong phú thêm để ở một khía cạnh nào đó có thể đề cập đến Truyện Kiều như “kiệt tác của những kỷ
lục”. Chúng tôi mạnh dạn nêu thành một bài viết trong Phụ lục VI, quyển Truyện Kiều trên báo chương
thế kỷ XX (Nxb Thanh Niên 2004) dưới dạng một bài báo chưa đăng. Ngày 10-11-2004, chúng tôi đã
ký với Trung tâm sách Những kỷ lục Việt Nam (VIETBOOK) một bản ghi nhớ về hợp tác và công bố
những kỷ lục của Truyện Kiều mà chúng tôi đã phát hiện và muốn minh chứng qua những quyển sách
đã viết về Truyện Kiều.
Chúng tôi biên soạn quyển sách này với hy vọng mong nuốn quý vị độc giả có một cái nhìn toàn cục và
cụ thể để càng thêm yêu quý kiệt tác thiên tài của Đại thi hào Nguyễn Du.
Sách được chia làm ba phần:
Phần thứ nhất. Truyện Kiều và những kỷ lục thế giới gồm 5 chương:
Chương I. Thú chơi Tập Kiều
Chương II. 10 bản dịch Truyện Kiều ra tiếng Pháp
Chương III. 7 quyển Hậu Truyện Kiều
Chương IV. Truyện Kiều đọc ngược
Chương V. Văn hóa Kiều
Phần thứ hai. Truyện Kiều và những kỷ lục Việt Nam gồm 10 chương:
Chương I. Tác phẩm đưa nhà thơ lên hàng danh nhân thế giới.
Chương II. Quyển truyện thơ duy nhất dùng để bói.
Chương III. Hiện tượng VỊNH KIỀU
Chương IV. Hiện tượng LẨY KIỀU
Chương V. Quyển sách tạo ra nhiều câu đố nhất
Chương VI. Quyển sách tạo ra nhiều giai thoại nhất
Chương VIII. Bộ phim truyện đầu tiên của Việt Nam: Kim Vân Kiều
Chương IX. Quyển sách nặng nhất ở Việt Nam.
Chương X. Quyển sách dài nhất Việt Nam
Phần thứ ba. Truyện Kiều và hàng chục điểm độc đáo khác.
Một câu hỏi được đặt ra là vì sao Truyện Kiều lại có thể đạt được nhiều kỷ lục đến như vậy? Câu trả
lời bước đầu có lẽ sẽ là ở chỗ chỉ có tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập mà tiếng Hán cổ và
tiếng Việt là những đại diện điển hình, cùng với thể thơ lục bát độc đáo của Việt Nam mới có thể đưa
Truyện Kiều đến với mọi tầng lớp nhân dân để tạo thành hiện tượng văn hóa Kiều với nhiều hình thức
đa dạng và phong phú đến vậy. Và bằng việc nghiên cứu kỹ Truyện Kiều, ta sẽ chứng minh được cái kỳ
diệu và độc đáo của tiếng Việt. Mong rằng vấn đề sẽ được các nhà nghiên cứu tiếp tục làm sáng tỏ
thêm. Chúng tôi vẫn muốn một lần nữa nhắc lại lời của nhà thơ Lưu Trọng Lư trong quyển Đi giữa
những trang Kiều, 1995:
“Truyện Kiều là một sự không cùng. Hôm qua nó là của Phạm Quý Thích, của Chu Mạnh Trinh “ngàn
liễu rung rinh sóng gợn tình”. Hôm nay là của “chúng tôi”. Ngày mai là của các bạn. Và mãi mãi là
của các mẹ, các chị, các em. Truyện Kiều sẽ nối lại những thế hệ tuổi hoa”.
Chúng tôi đã cố gắng trình bày rõ nhưng ngắn gọn những điểm độc đáo của Truyện Kiều, quý vị độc
giả có thể độc thêm ở những quyển sách khác của chúng tôi. Dù sao đây cũng là một việc làm rất mới
nên chắc chắn sách còn nhiều thiếu sót, mong được quý vị - vì lòng ngưỡng mộ Đại thi hào của chúng
ta – mà thể tình và góp ý cho[1]. Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn.
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 20 tháng 12 năm 2004
PHẠM ĐAN QUẾ
[1] Thư góp ý xin chuyển đến địa chỉ: phamdanque@yahoo.com.
PHẦN THỨ NHẤT: TRUYỆN KIỀU VÀ NĂM KỶ LỤC THẾ GIỚI
CHƯƠNG I. THÚ CHƠI TẬP KIỀU
Truyện Kiều là quyển sách duy nhất trên thế giới có được hiện tượng gọi là TẬP KIỀU, chắp nhặt
những câu Kiều ở những chỗ khác nhau để thành nhiều bài thơ mới phong phú đến như vậy. Tập Kiều
đã trở thành một thú chơi đã thu hút biết bao văn nhân thi sĩ với hàng trăm thi phẩm đủ loại từ lục bát,
ngũ ngôn, tứ tự, thất ngôn đến văn tế rồi tập Kiều để dịch Hán thi... trong trên 150 năm qua mà chúng
tôi đã trình bày trong quyển TẬP KIỀU - MỘT THÚ CHƠI TAO NHÃ (1994). Quyển này mới được
bổ sung và in lại lần thứ tư năm 2004 cho thật đầy đủ với nhan đề THÚ CHƠI TẬP KIỀU dày 380
trang . Sách gồm hai phần chính :
Phần thứ nhất : Vấn đề tập Kiều (150 trang) có ba chương :
I. Cách thức tập Kiều
II. Tư liệu tập Kiều
III. Phân loại vần trong Truyện Kiều
Phần thứ hai: Mười sáu bộ vần trong Truyện Kiều (140 trang)
I. Trong các lối chơi văn học của người xưa thì ngoài việc ngâm vịnh thơ phú, Truyện Kiều còn đem
đến cho các bậc văn nhân thức giả một thú chơi vô cùng hấp dẫn và tao nhã, đó là TẬP KIỀU. TẬP
KIỀU là lựa chọn một số câu Kiều - ở những chỗ khác nhau trong 3.254 câu của Truyện Kiều - nối vần
lại được với nhau, tình ý nhất quán để tạo thành một bài thơ mới có ý nghĩa, theo một chủ đề nhất định.
Người ta đã làm rất nhiều bài tập Kiều như vậy. Trước hết chúng tôi xin giới thiệu ở đây một thí dụ.
Chẳng hạn, sau bao năm tháng trôi qua, đến khi tóc đã ngả màu sương, ta mới có dịp trở lại quê nhà
thăm người bạn cũ và ta đọc tặng người bạn cố tri mấy câu tập Kiều trong tình cảnh ấy:
BÀI TẬP KIỀU
Câu Kiều
số
số
Trăm năm trong cõi người ta
1
Nhìn xem phong cảnh nay đà khác
2744
xưa
Quản bao tháng đợi, năm chờ
553
Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm
bao
3014
Những là rày ước, mai ao
3069
Như nung gan sắt, như bào lòng
son
2832
Dù cho sông cạ đá mòn
1975
Lần lừa ai biết hãy còn hôm nay
324
Đến bây giờ mới thấy đây!
2281
Những bài tập Kiều như vậy có thể dài hay ngắn là tùy theo yêu cầu cụ thể và thường có ba mức:
1. Từng câu Kiều dùng trong toàn bài đều được giữ nguyên như trong văn bản Truyện Kiều. Loại này
chỉ có thể là thơ lục bát. Trong các bài này, tất cả các câu Kiều đều được giữ nguyên. Bài tập Kiều của
Lý Văn Phức tóm lược hồi 20 của Truyện Kiều năm 1847 là một thí dụ:
Kiều của Lý Văn Phức tóm lược hồi 20 của Truyện Kiều năm 1847 là một thí dụ:
Hồi thứ 20
Câu Kiều
TÁI HỒI KIM TRỌNG
số
Nguyên người quanh quất đâu xa
1
2
3
4
Người còn, sao bỗng làm ma khóc 0147
người
2978
Thấy lời quyết đoán hẳn hoi
1031
Duyên ta mà cũng phúc trời chi
không
2694
5
Được rày tái thế tương phùng
3039
6
Một nhà tấp nập kẻ trong người
ngoài
0760
7
3283
Cùng nhau trông mặt cả cười
8
3012
Nọ chàng Kim đó là người ngày
xưa.
2. Ở mức này, trong một số câu ta có thể cắt bớt một số chữ, đảo lại một câu hay đổi một cụm từ nhưng
để thay vào đó cũng phải là cụm từ của một câu Kiều khác. Như vậy tức là bài chỉ gồm những chữ
trong Truyện Kiều. Để làm thí dụ về việc cắt bớt và thêm vào những câu Kiều có sẵn, ta không thể
không kể đến một bài tập Kiều độc đáo trong xu hướng bài Pháp, đó là bài diễn tả một cô đầm mặc
váy. Đặc điểm của bài này là: Chỉ có bốn câu lục bát trong đó hai câu lục lấy từ hai câu bát của
Truyện Kiều rồi bỏ đi hai chữ, trong khi hai câu bát lại là hai câu lục của Truyện Kiều rồi thêm vào
hai chữ (vẫn là chữ của Kiều). Theo Lãng Nhân thì bài này là của Vũ Khắc Tiệp làm:
Hoa quan phấp phới hà y
Nổi danh tài sắc một thì... xôn xao
Mà cho thiên hạ trông vào
Bấy lâu nghe tiếng má đào... mắt xanh[1]
Như vậy là câu lục đầu được bỏ đi hai chữ rỡ ràng còn câu lục sau bỏ đi hai chữ cũng hay trích từ hai
câu bát của Truyện Kiều. Hai câu bát thì lại thêm vào hai chữ xôn xao và mắt xanh lấy từ các câu Kiều
tiếp theo.
Nói đến tập Kiều, cũng cần kể đến bài tập Kiều năm 1965 của Nguyễn Bính và cái chết đột ngột đến
bất ngờ của nhà thơ, tưởng như ứng nghiệm từ một bài tập Kiều, theo đoạn kết của Chu Văn trong Lời
bạt quyển Tuyển tập thơ Nguyễn Bính như sau:
... "Chuẩn bị số báo tết Nguyên Đán đầu năm Bính Ngọ ấy, chúng tôi cũng dành rất nhiều bài báo về
Nguyễn Du và Truyện Kiều. Hôm duyệt bài báo Tết, Nguyễn Bính khỏe, tươi, tay thủ thủ một tập giấy
mỏng. Anh khoe: Trong một đêm đã viết được một bài tập Kiều vịnh cụ Tiên Điền. Anh không cho ai
xem, chờ lúc ra hội đồng đủ mặt mới trịnh trọng giở trang giấy viết công phu - chữ đẹp như xếp rồi
hắng giọng ngâm nga:
(Bài này được chúng tôi đánh theo những câu Kiều để dễ theo dõi – PĐQ)
KÍNH TẶNG
Câu
NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU Kiều số
Cảo thơm lần giở trước đèn
1
Là nhiều vàng đá phải tìm trăng hoa 0007
2
Trăm năm trong cõi người ta
3176
3
Một thiên tuyệt bút gọi là để sau
0001
4
Khen tài nhả ngọc phun châu
2626
5
Mười lăm năm ấy, biết bao nhiêu
tình
0405
6
3070
Mấy lời ký chú đinh ninh
7
2789
8
Rằng: Tài nên trọng mà tình nên
thương
1900
9
Khen rằng: Giá lợp Thịnh Đường
1455
10
Thì treo giải nhất chi nhường cho ai 0210
11
Ngẫm âu người ấy báu này
12
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào 0490
13
Nặng vì chút nghĩa xưa sau
14
Mà cho thiên hạ trông vào cũng hay 1962
15
Thương vui bởi tại lòng này
3209
16
Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa
trời
3122
17
0297
3233
0131
Lòng thơ lai láng bồi hồi
18
2856
Tưởng Người nên lại thấy Người về
đây.
“Cả hội đồng duyệt bài số báo Tết hôm ấy cùng lặng đi. Một bài tập Kiều thật hay. Nhưng nghe ra...
Đây tuy đề là tặng cụ Tiên Điền mà sao cứ như tâm sự của Nguyễn Bính, tổng kết cái cuộc đời tài hoa
long đong, lận đận và... những câu sau cùng sao mà nó sái quá: Một lời là một vận vào khó nghe....
“Nguyễn Bính cười trừ:
“- Các ông này mê tín! Cứ hay là được rồi. Tôi xin nộp bài này. Một câu, một chữ không sửa.
“Câu chuyện qua đi... Và mọi người chuẩn bị cho một cái Tết bận rộn... Riêng Nguyễn Bính, muốn tạo
một xuân tha hương nữa, lại chọn ngày giáp Tết đến nhà người bạn ở huyện Lý Nhân. Ngờ đâu, đúng
sáng 30 Tết, tại nhà người bạn, bị một luồng gió lạnh, ông rùng mình thổ huyết và ngất xỉu. Gia đình
chủ nhà hết lòng chạy chữa nhưng không kịp nữa rồi...
“Tân thanh đáo để vị thùy thương[2]
(Tân thanh sau hết ngậm ngùi vì ai)
“Nguyễn Bính mất ngay ngày hôm đó tức là 30 Tết (20 tháng 1 năm 1966) khi sắp bước sang tuổi 49."
Trong bài tập Kiều trên, có mấy câu Nguyễn Bính đã thay đổi chút ít như sau:
Câu 13. Nặng vì chút nghĩa xưa sau
Nguyên câu Kiều 3233: Nặng vì chút nghĩa bấy lâu
Câu 15. Thương vui bởi tại lòng này
Nguyên câu Kiều 3209: Tẻ vui bởi tại lòng này
Câu 18: Tưởng Người nên lại thấy Người về đây.
Nguyên câu Kiều 2856: Tưởng nàng nên lại thấy nàng về đây.
3. Mức độ cuối cùng là có thể thay đổi một số chữ trong các câu Kiều để thay vào bằng những chữ
không có trong Truyện Kiều. Đó cũng là trường hợp các từ, các ý mới xuất hiện về sau, thời Nguyễn
Du chưa có. Ta hãy xem bài báo:
TẬP KIỀU CHỐNG MỸ
(Giôn xơn nghe tin Mỹ bị tiêu diệt ở Plây me - Đà Nẵng)
Mảng tin xiết nỗi kinh hoàng
Dẫu là đá cũng nát gan lọ người
Đời mà đến thế thì thôi
Kẻ chê bất nghĩa, người cười vô lương
Bao nhiêu của mấy ngày đường
Đem quân đi bỏ chiến trường như không
Thôi còn chi nữa mà mong
Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào
Ngẫm từ gây việc binh đao
Đống xương Vô Định đã cao bằng đầu
Nghe thôi kinh hãi xiết đâu
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày
Còn thiên Tích Việt ở tay
Nghĩ càng thêm nỗi sởn gai rụng rời
Chước đâu có chước lạ đời
Mênh mông nào biết bể trời nơi nao
Gió cao ngọn lửa càng cao
Thịt nào chẳng nát, gan nào chẳng kinh
Quản chi lên thác xuống ghềnh
Ai ngờ một phút tan tành thịt xương
Ma đưa lối quỷ đưa đường
Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi
Chốc đà mười mấy năm trời
Bao nhiêu vốn liếng đi đời nhà ma
Nghĩ mình phương diện quốc gia
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền
Quá chơi lại gặp hồi đen
Bể sâu bóng cả có tuyền được vay
Cạn lời hồn ngất máu say
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.
TỪ CÔNG[3]
(Tuần báo Văn Nghệ số 13, 1965)
II. Trong lịch sử văn học, nói đến thơ tập Kiều, ai cũng phải nhắc đến những bài tập Kiều của Lý Văn
Phức (1785 - 1849).
Năm 1847, ông vâng mệnh vua Tự Đức đã làm liền hai mươi bài tập Kiều, mỗi bài gồm tám câu lục
bát dựa theo nội dung của hai mươi hồi trong cuốn Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân,
cuốn tiểu thuyết Trung Hoa mà từ đó Nguyễn Du đã sáng tạo nên Truyện Kiều bất hủ của mình
Với Hồi thứ nhất, về cảnh viếng mộ Đạm Tiên, Kim - Kiều gặp gỡ, Lý Văn Phức đã làm bài tập Kiều
sau đây:
Một vùng cỏ áy bóng tà,
Rộn đường gần với nỗi xa bời bời.
Thương thay cũng một kiếp người,
Sẵn đây ta thắp một vài nén hương.
Có người khách ở viễn phương,
Chẳng sân ngọc bội, cũng phường kim môn.
Những là lạ nước lạ non,
Khách đà lên ngựa, người còn ghé theo.
LÝ VĂN PHỨC
Toàn bộ hai mươi bài tập Kiều này đã được chép trong cuốn THANH TÂM TÀI TỬ CỔ KIM MINH
LƯƠNG ĐỀ TẬP BIÊN để nối sau hai mươi bài thơ vịnh Kiều bằng chữ Hán theo từng hồi của vua
Tự Đức và đã được chúng tôi giới thiệu trong quyển Tập Kiều - một thú chơi tao nhã.
Các nhà thơ sau này từ Nguyễn Khuyến, Nguyễn Thượng Hiền, Phan Bội Châu đến Nguyễn Hữu
Khanh, Tản Đà … rồi Nguyễn Bính, Hoàng Trung Thông … đều có làm thơ tập Kiều.
Về công phu tập Kiều, phải kể đến một tác giả đặc biệt, đó là Phan Mạnh Danh, từng tham gia cuộc thi
thơ, bình vịnh Truyện Kiều nổi tiếng năm 1905 ở Hưng Yên. Với một vốn hiểu biết hết sức uyên thâm
về thơ cổ Trung Hoa, trong cuốn Bút hoa thi thảo xuất bản sau khi qua đời năm 1942, ông đã cho
chúng ta được thưởng thức rất nhiều bài tập Kiều đặc sắc khiến nhiều người phải kinh ngạc. Riêng về
tập Kiều để dịch thơ chữ Hán, vào cuối năm 1941 ông để lại mười bài. Ta hãy xem một bài thơ của
Đỗ Phủ trong Đường Thi đã được lựa chọn các câu Kiều để dịch nghĩa như thế nào:
TẶNG HOA KHANH
ĐỖ PHỦ - ĐƯỜNG THI
Cẩm thành ca quản nhật phân phân
Bán nhập giang phong bán nhập vân
Thử khúc chỉ ưng thiên thượng hữu
Nhân gian ninh đắc kỷ hồi văn.
BÀI DỊCH TẬP KIỀU
Đùng đùng gió giục mây vần
Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia
Khúc đâu đầm ấm dương hòa
Ai tri âm đó mặn mà với ai?
Đặc biệt là ông còn chắp những câu cổ thi Trung Quốc để dịch lại rất nhiều đoạn trong Truyện Kiều
tức là làm điều ngược lại: Bài trên đây là tập Kiều để dịch Hán thi thì nay là tập Hán thi để dịch Kiều.
Suốt 4 năm từ 1896 đến 1900, ông đã soạn được tới 688 câu thơ cổ Trung Hoa để dịch 688 câu Kiều,
tức hơn 1/5 tác phẩm. Trong cuốn sách kể trên, ông đã dịch được 46 đoạn, mỗi đoạn bốn câu Kiều
(tức 184 câu) như đoạn:
Đào tiên đã bén tay phàm
Thì vin cành quýt cho cam sự đời
Dưới trần mấy mặt làng chơi
Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa?
đã được dịch bằng bốn câu tập Hán thi như sau (Chữ đậm nghiêng bên phải là nguồn gốc của mỗi câu
thơ):
Bích đào tiên chủng bản phi phàm trong Thi lâm
Đáo thủ hề phương nhiệm nhĩ tham Thập mỹ
Tối thị Lạc Dương hoa hạ khách Ngũ mỹ
Giã ư hoa sự vị tằng am Nhi nữ tình
Còn 252 khổ thơ Kiều được dịch bằng cách chọn các câu thơ chữ Hán tương tự, từ những câu đầu tiên
trong Truyện Kiều như:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
được dịch thành:
Nhân sự bách niên kham thế lệ trong Thi lâm
Toán lai tăng mệnh vi tài đa... Nữ nhi tình
III. Về các thể loại ta có thể kể:
1. TẬP KIỀU LỤC BÁT TIỆT HẠ
KÍNH CÁO QUỐC DÂN
Ví chăng xét tấm tình si
Thiệt đây mà có ích gì đến ai
Vội chi liễu ép hoa nài
Còn thân còn một đền bồi có khi
Sinh rằng: Từ thuở tương tri
Tấm riêng riêng những nặng vì nước non
Trăm năm tính cuộc vuông tròn
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông
Muôn đội ơn lòng.
PHAN BỘI CHÂU
Tạp chí Bách khoa Sài gòn số 17(1957)
2. THẤT NGÔN BÁT CÚ TẬP KIỀU
Rõ nền phú quý bậc tài danh,
Lần bước hài văn bước dặm xanh.
Trên gác Quan Âm mây phủ tán,
Trước lầu Ngưng Bích gió lay mành.
Khen tài nhả ngọc thơ lưng túi,
Sánh giọng quỳnh tương rượu một bình.
Gặp hội trường văn xuân bảng chiếm,
Làm cho đổ quán lại xiêu đình.
NGUYỄN KHUYẾN
3. HÁT NÓI TẬP KIỀU
TRÁCH KẺ BẠC TÌNH
Mưỡu:
Đôi ta chút nghĩa đèo bòng
Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân
Lại đây xem lại cho gần
Hoa xưa, ong cũ mười phân chung tình
Nói: Cửu triệt, trùng phùng vô hạn cảm
Nghĩa đồng tâm đâu nhẽ dám vô tình
Vẳng tai nghe tiếng trống lẫn hồi sênh
Kìa rõ khách ba sinh hay giấc điệp?
Tịch thượng, đê mi lang cố thiếp
Đăng tiền đa tiện thiếp tu lang
Nào những ai:
Khi chăn loan, khi gối phượng,
Khi hẹn ngọc, lúc thề vàng
Nặng vì tình chót phải đa mang
Mà những lúc "đoạn trường" ai sẻ nửa?
Thôi! Chuyện cũ kể làm chi nữa
Phím đàn này sẽ lựa tính tình xưa...
Yêu nhau từ bấy đến giờ!...
Hương Sơn cư sĩ
NGUYỄN HỮU KHANH
4. BÀI PHÚ TẬP KIỀU KHUYẾT DANH
(Bài do Khái Sinh sao lục đăng trên tạp chí Nam Phong, bài tương đối dài, ở đây chúng tôi xin trích
đoạn ngắn)
Kể từ lúc:
Ngọc chưa cài, trâm chưa giắt
Tài sắc gồm hai, phong lưu rất mực
So tay bút pháp, Lan Đình mấy thiếp nào thua;
Lầu bậc cung thương, Hồ cầm một trương ăn đứt
Sắc khuynh quốc, hoa thua liễu kém, nắng mưa gìn giữ xiết bao!
Tuần cập kê, trướng rủ màn che, ong bướm đi về cũng mặc.
Tới tiết Thanh minh:
Quần áo thướt tha, ngựa xe giong ruổi
Trở ra về gặp chàng Kim Trọng, mặn mà thay lan cúc cả hai bên!
Thoắt chiêm bao thấy ả Đạm Tiên, đau đớn nhẽ nhân duyên cùng một hội!
Lênh đênh mặt sóng, đã đành phận gái truân chuyên;
Lắt léo cành thoa, mới biết lòng trời run rủi
Trên tường gấm, ơn lòng quân tử, mở quạt đổi trao;
Dưới lầu son, vắng mặt tri âm, vò tơ bối rối
May làm sao:
Thanh vắng một mình; hôm nay được buổi
Cùng nhau vàng đá mấy lời; dám tiếc tóc tơ một mối
Thôi vẫn tưởng:
Chỉ hồng lá thắm ấy là duyên;
Nào có biết:
Nhị rữa vàng phai đâu đến nỗi
Bỗng phải tai bay vạ gió; quản chi ngọc trắng cát lầm
Ơn chín chữ mong đền gang tấc; thân nghìn vàng đổi lấy ba trăm.
Chẳng ngờ gã Giám Sinh, phong tình là đứa;
Chung lưng con già Tú, buôn bán quanh năm
Kiếp má hồng toan trả trời xanh, sực thấy mấy câu thần mộng;
Doành nước biếc nổi cồn sóng bạc, thêm thương đến khách tri âm
Ai oán nhẽ! ngâm câu tuyệt diệu;
Lạ lùng thay! có tiếng họa ngâm…
5. VĂN TẾ ĐẠM TIÊN CỦA KHÁCH VIỄN PHƯƠNG
(Trích đoạn đầu)
Hỡi ôi!
Bình rơi trâm gãy, cuộc bể dâu trông thấy những đau lòng
Ngọc đắm hương chìm, tủi số kiếp sầu tuôn chừng đứt nối
Trăng già cớ sao độc địa, cầm dây chẳng lựa khách ba sinh
Hóa nhi thật khéo nỡ lòng, đò tạo vội đưa người chín suối.
Nhớ nàng xưa:
Mặt ngọc in sương
Thân vàng pha tuyết
Tài sắc nổi danh một lúc, xôn xao ngoài cửa, biết bao anh yến gần xa
Ca ngâm trải đủ năm cung, rộn rực trong sân, xiết kể bướm ong sớm tối
Bảy chữ, tám nghề làu thuộc, chơi cho liễu chán hoa chê
Đôi mày, chín khúc say sưa, khép mở tóc vò tơ rối
Dìu dập cành chim lá gió, tối đưa Tống Ngọc, sớm rước Trường Khanh
Biết bao bướm lả ong lơi, đêm khoác áo xanh, ngày thờ Mày Trắng
Ngẩn ngơ trận cười suốt đêm
Mê mẩn cuộc vui đầy tháng…
6. KIỀU TỨ TỰ: TRUYỆN KIỀU RÚT GỌN (KIỀU GỌT)
KIỀU TỨ TỰ của cụ Cử Lại Trì Hà Mai Khôi. Tập này đã lấy các câu Kiều rồi cắt ra bốn chữ một để
chắp lại với nhau thành một bài thơ dài gồm những câu chỉ có bốn chữ. Cả bài có 142 khổ thơ có 568
câu lược lại toàn bộ diễn biến của Truyện Kiều. Đây là 15 khổ thơ với 60 câu đầu tiên:
1. Gẫm duyên kỳ ngộ
Tác hợp cơ trời
Làm gương cho khách
Để bia muôn đời.
2. Rủi may âu cũng
Ghét bỏ chi nhau
Nhẹ nhàng nợ trước
Tương phùng kiếp sau.
3. Có nhà Viên ngoại
Vốn dòng nho gia
Một trai con thứ
Hai ả tố nga.
4. Đủ mùi ca ngâm
Nổi danh tài sắc
Phú quí ai bì
Phong lưu rất mực.
5. Vân xem trang trọng
Nét ngài nở nang
Kiều càng sắc sảo
Ngọc nói đoan trang.
6- Lần xem phong cảnh
Trong tiết Thanh minh
Ngổn ngang gò đống
Nô nức yến anh
7- Đạm Tiên nàng ấy
Nấm đất bên đường
Xót người mệnh bạc
Ở dưới suối vàng
8- Đời người đến thế
Trông thấy càng thương
Tần ngần dạo gót
Gặp gỡ giữa đường.
9. Họ Kim tên Trọng
Phong nhã hào hoa
Khách đà xuống ngựa
Kiều nép dưới hoa.
10. Xuân lan thu cúc
Quốc sắc thiên tài
Cùng nhau trông mặt
Ra tình đeo đai.
11. Sinh thì dạo gót
Nàng mới kíp dời
Tựa ngồi bên triện
Nhường có bóng người.
12. Thấy một tiểu kiều
Vâng trình hội chủ
Mặt người vô duyên
Đoạn trường là số.
13. Cứ trong mộng triệu
Xiết nỗi kinh hoàng
Vâng lời khuyên giải
Thật ý lo lường.
14. Bông liễu bay ngang
Con oanh học nói
Là thói hữu tình
Đố ai gỡ mối.
15. Nỗi nàng canh cánh
Gác bóng chênh chênh
Ngổn ngang trăm mối
Duyên nợ ba sinh…
HÀ MAI KHÔI
(Tạp chí Nam Phong số 50 năm 1922)
7. KIỀU NGŨ NGÔN: HỒI I. KIM KIỀU GẶP GỠ
KIM VÂN KIỀU NGŨ NGÔN gồm 1.500 câu ngũ ngôn trích từ những câu Kiều dựa theo trình tự 20
hồi cuốn Kim Vân Kiều Truyện có trích in trong quyển Từ Lẩy Kiều, Đố Kiều... đến các giai thoại về
Truyện Kiều. Ở đây xin giới thiệu 56 câu của hồi I.
Năm Gia Tĩnh triều Minh
Phẳng lặng cả hai kinh
Có nhà Vương Viên ngoại
Gia tư cũng bậc trung
5. Đầu lòng hai chị gái:
Thúy Kiều và Thúy Vân
Cùng yểu điệu thanh tân
Kiều mặn mà sắc sảo
Tài sắc lại phần hơn
10. Hoa ghen thắm, liễu hờn
Đủ thi họa, ca ngâm
Thiên Bạc Mệnh não nhân.
Vương Quan là trai rốt
Cũng là bậc văn nhân.
15. Ngày xuân tiết Thanh minh
Đi dự hội Đạp thanh
Cùng sắm sửa bộ hành
Gặp nấm mồ vô chủ
Sao hương khói vắng tanh.
20. Hỏi ra mồ kỹ nữ
Nàng xưa gọi Đạm Tiên.
Kiều sầu tuôn đứt nối
Khéo bấy là vô duyên
Thương tâm lòng sẵn mối.
25. Hồng nhan tự thuở xưa
Bạc mệnh có ai chừa,
Vội thắp vài nén hương
Tình cờ gặp giữa đường
Kiều lầm rầm khấn vái.
30. Càng ủ dột nét hoa,
Chiều cỏ áy bóng tà
Còn dùng dằng về, ở
Tiếng nhạc vàng đâu đã
Chừng thấy một văn nhân
35. Vài thằng nhỏ theo chân
Cỏ nhuộm non màu áo
Khách xuống ngựa tự tình
Hài văn bước dặm xanh
Tựa cây quỳnh cành dao.
40. Vương quen mặt ra chào
Dưới hoa hai Kiều nép.
Chàng họ Kim tên Trọng
Vốn nết đất văn chương,
Phong tư và tài mạo
45. Phong nhã lại hào hoa.
Chung quanh đất nước nhà
Bậc tài danh phú hậu,
Bóng hồng thấy nẻo xa
50. Gặp được tuần đố lá
Quốc sắc với thiên tài
Mà tình trong như đã:
Chập chờn cơn tỉnh, mê
Chẳng tiện dứt ra về
55. Bóng tà khách lên ngựa
Mà người còn ghé theo...
PHẠM ĐAN QUẾ
8. THƠ THẤT NGÔN: HOA ĐÀO NGÀY TẾT
Đâu bỗng không mua não chuốc sầu;
Sầu người, buồn cảnh, có vui đâu!
Trướng tô giáp mặt, hoa đào vẻ...
Nào! Vạch da cây vịnh bốn câu!
Đào nguyên lạc lối đâu mà đến?
Đây: Kẻ đi muôn dặm một mình!
Khi cúi đầu, khi vò chín khúc
Chân mây mặt đất, một màu xanh.
Tường đông ong bướm đi về mặc,
Ai bấy lâu nghe tiếng má đào.
Mới thấy đây mà lòng đã chắc,
Đào càng treo giá, ngọc càng cao.
Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm...
Sao một lời là một vận vào?
Tơ phím này trông ra ngọn cỏ,
Bao tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao.
VŨ HOÀNG CHƯƠNG
(Tạp chí Bách Khoa - 1973)
9. BẢNG CÁC BỘ VẦN TRONG TRUYỆN KIỀU
Dựa vào luật bằng, trắc trong thơ lục bát và ba qui tắc hiệp vần (bằng) trong thơ tiếng Việt, chúng tôi
tách 3.254 câu thơ trong Truyện Kiều thành 1.627 cặp câu (gồm một câu lục và một câu bát liền nhau,
cùng vần) và sắp xếp lại thành 16 bộ vần và giới thiệu trong quyển Tập Kiều - một thú chơi tao nhã
hay Thú chơi Tập Kiều (Xem 16 bộ vần ở trang 38)
Bộ vần 12 (iêng) chỉ có một khổ là câu 241-242:
Hiên tà gác bóng nghiêng nghiêng
Nỗi riêng, riêng chạnh tấc riêng một mình
Bộ vần 2 (Ai, oi, oai, ôi, ơi, ui, uôi, ươi) là nhiều nhất gồm 266 cặp với 532 câu.
BẢNG 16 BỘ VẦN TRONG TRUYỆN KIỀU
Số
BỘ VẦN
thứ tư
Số cặp Số câu
lục bát thơ
A – oa
1
155
310
2
Ai – oi – oai – ôi – ơi – uôi
266
– ươi
532
3a
Am – ôm – ơm – uôm - ươm 6
12
3b
Ăm – âm
20
40
4a
An – oan – ơn
49
98
4b
Ăn – ân – uân
84
168
5a
Ang – oang – uông – ương –
140
Ăng
280
5b
âng – ưng
25
50
6
Anh – ênh – inh – oanh –
uynh
115
230
7a
Ao – eo êu – iêu – iu – yêu 111
222
7b
Au – âu
87
174
8
Ay – ây – oay – uây
133
266
9
E – ê– I – ia – oe – uê – uy
121
– uya – y
242
10
Em – êm – iêm – im
9
18
11
En – ên – iên – yên – yên
75
150
12
Iêng
1
2
13
O – ô – u – ua
20
40
14
On – ôn – uôn - un
19
38
15
Ong – ông – ung
120
240
16
Ơ – ư – ưa
71
142
Trong 16 bộ vần này (sắp thứ tự theo vần chữ cái) có 4 bộ vần gồm 2 nhóm là các bộ vần 3, 4, 5 và 7
như sau:
- Bộ vần 3 gồm 52 câu trong đó:
3a: Am, ôm, om, uôm, ươm (12 câu)
3b: Ăm, âm (40 câu)
- Bộ vần 4 gồm 268 câu trong đó:
4a: An, ơn, oan (100 câu)
4b: Ăn, ân, uân (168 câu)
- Bộ vần 5 gồm 330 câu trong đó:
5a: Ang, oang, uông, ương (280 câu)
5b: Ăng, âng, ưng (50 câu)
- Bộ vần 7 gồm 396 câu trong đó:
7a: Ao, eo, êu, iu, iêu, yêu (222 câu)
7b: Au, âu (174 câu)
Các vần thuộc họ a, b của cùng một bộ vần cũng có thể nối vần nhưng một số trường hợp hơi cưỡng ép
vì vậy phải để tách riêng (vần ép).
Việc sắp lại thành các bộ vần như thế này sẽ giúp cho những ai muốn làm các bài tập Kiều, vịnh
Kiều,... giảm bớt được rất nhiều thời gian bởi khi cần đến vần nào ta đã có ngay toàn bộ các câu Kiều
thuộc vần đó để lựa chọn, và việc tập Kiều có thể thực hiện được một cách tự động.
Trong bảng trên, 3254 câu Kiều đã được sắp xếp lại thành 16 bộ vần mà chúng tôi đã giới thiệu đầy
đủ trong quyển Tập Kiều - một thú chơi tao nhã, hay quyển Thú chơi Tập Kiều. Trên cơ sở đó ta có
thể làm những bài tập Kiều một cách nhanh chóng và tự động bởi khi cần đến vần nào ta đã có ngay
toàn bộ các câu Kiều thuộc vần đó để lựa chọn.
***
10. GIAI THOẠI VỀ HAI ...
 





