Sống Đơn Giản Cho Mình Thanh Thản - Chương 1
Cửa Tùng Đôi Cánh Gài - Thích Nhất Hạnh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 02h:29' 29-04-2024
Dung lượng: 550.5 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 02h:29' 29-04-2024
Dung lượng: 550.5 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Cửa Tùng Đôi Cánh Gài
Khi chàng dũng sĩ về đến chân núi thì trăng cũng vừa lên. Trăng
mười chín soi sáng cảnh núi rừng cô tịch. Ánh trăng nhấp nháy đùa
giỡn trên lá cây. Đêm thu mát lạnh. Cảnh vật hình như không có gì
đổi thay sau bảy năm xa cách. Cảnh vật tuy không xa lạ, nhưng cũng
không thân mật chào đón người cũ từ phương lạ trở về. Chàng dũng
sĩ dừng lại ở chân núi, nhìn lên.
Trước mặt chàng, con đường mòn lên núi đã bị đôi cánh cửa tùng
khép chặt. Chàng đưa tay cố đẩy. Nhưng hai cánh cửa kiên cố vẫn
im lìm không lay chuyển dưới sức mạnh của đôi cánh tay chàng.
Chàng lấy làm lạ. Ngày xưa chẳng bao giờ sư phụ chàng lại cho
đóng chặt cửa lên núi như thế này. Chỉ có một con đường đưa tới
am sư phụ mà thôi, nhưng bây giờ lại bị đóng chặt. Hớn hở chàng vỗ
tay vào đốc kiếm, phi thân nhảy qua, nhưng chàng không nhảy qua
khỏi. Một mãnh lực gì níu lấy thân chàng trở lại, khiến chàng không
cất mình lên khỏi hai cánh cửa tùng. Chàng rút gươm định chém rời
cánh cửa, nhưng khi chạm tới cánh cửa, lưỡi gươm văng trở lại như
vừa chạm vào thép cứng. Chàng chùn tay, đưa lưỡi gươm lên nhìn.
Lưỡi thép sáng loáng dưới ánh trăng. Cánh cửa tùng rắn quá, và
hình như đã thu nhận thần lực của sư phụ chàng, nên đã đóng kín
đường mòn lại một cách hết sức vững chãi. Chàng thở dài cho
gươm vào vỏ rồi ngồi phịch xuống tấm đá lớn gần bên, ôm đầu nghĩ
ngợi. Bảy năm về trước, chàng còn nhớ rõ khi chàng xuống núi, sư
phụ chàng đã lặng lẽ nhìn chàng một hồi lâu, không nói năng gì. Cái
nhìn của Người tuy dịu dàng nhưng có lẫn đôi chút xót thương.
Chàng đã cúi đầu im lặng trước đôi mắt dịu hiền và cái nhìn bao
dung của sư phụ. Hồi lâu Người mới thong thả bảo chàng:
- Ta không thể giữ con ở mãi bên ta. Thế nào con cũng phải xuống
núi để hành đạo, để cứu người và giúp đời. Ta cho rằng con có thể ở
lại cùng ta trong một thời gian nữa trước khi con rời ta xuống núi.
Nay con đã muốn xuống thì con cứ xuống. Nhưng con ạ, ta mong
ề
ố
ồ
con nhớ những điều ta dặn khi con đã đi vào cuộc sống đồng sự và
lợi hành.
Rồi Người cặn kẽ dặn chàng về những điều chàng nên tránh, và về
những điều chàng nên làm. Sau hết, Người từ tốn và dịu dàng để tay
trên vai chàng:
- Con phải nhớ những tiêu chuẩn hành động mà ta đã truyền thọ cho
con trong năm sáu năm trời học tập. Chớ bao giờ làm một việc gì có
thể gây khổ đau cho mình và cho kẻ khác, trong hiện tại cũng như
trong tương lai. Hãy tiến bước mạnh dạn trên con đường mà con
chắc có thể đưa con và mọi người về nơi giác ngộ. Nên nhớ muôn
đời những tiêu chuẩn khổ vui và mê ngộ mà hành Đạo, độ Đời.
"Thanh bảo kiếm mà ta đã trao cho con, con hãy sử dụng nó để diệt
trừ ma chướng. Hãy xem đó như lưỡi gươm trí tuệ nơi tâm con sẽ
dùng để hàng phục mê chướng và si vọng. Nhưng để giúp con, ta
cho con thêm một bảo bối này để con có thể thành tựu công quả một
cách dễ dàng.
Người thong thả lấy trong tay áo ra một chiếc kính nhỏ và đưa cho
chàng:
- Đây là Mê Ngộ Cảnh. Tấm kính này sẽ giúp con biết rõ thiện ác,
chính tà. Có người gọi nó là kính chiếu yêu, bởi vì qua tấm kính này,
con có thể thấy được nguyên hình của loài yêu quái.”
Chàng nhận bảo kính và cảm động đến nỗi nói không nên lời. Tờ mờ
sáng hôm sau, chàng lên bái biệt sư phụ xuống núi. Người tiễn
chàng xuống tận dòng Hổ Khê và thầy trò từ biệt nhau trong tiếng
suối róc rách chảy. Sư phụ đặt bàn tay hiền dịu trên vai chàng nhìn
thẳng vào cặp mắt chàng. Và nhìn theo chàng dũng sĩ ra đi. Người
còn dặn theo:
- Nhớ không con, nghèo khổ không thay đổi, vũ lực không khuất
phục, giàu sang không mờ ám nhé. Ta ở đây đợi ngày con mang đạt
nguyện trở về.
ầ
ố
ế
Chàng nhớ lại những ngày đầu tiên xuống núi tiếp xúc với cuộc đời.
Chàng đã gặp trên con đường hành đạo bao bộ mặt khác nhau của
con người, đã dùng bảo kiếm và mê ngộ cảnh của sư phụ chàng một
cách có hiệu quả. Chàng còn nhớ có một lần kia, trên con đường
hành đạo, chàng gặp một vị đạo sĩ tay cầm phất trần, đi lại gần
chàng và mời chàng về động để bàn tính công việc giúp đời. Đạo sĩ
tỏ ra rất hăng hái với việc cứu nhân độ thế và giúp ích mọi loài. Ban
đầu, chàng say sưa nghe theo lời đạo sĩ.
Nhưng trong lúc tiếp xúc với vị đạo sĩ, chàng nhận thấy người này có
vẻ khả nghi. Chàng đưa tay rút mê ngộ cảnh ra chiếu. Trước mắt
chàng, không phải là một đạo sĩ mà là một con yêu lớn có hai nanh
dài, một cặp sừng trên trán và hai con mắt xanh lè đổ lửa. Chàng vội
nhảy lui lại và rút bảo kiếm chém. Yêu quái cố sức kháng cự, nhưng
cuối cùng, chàng thắng, và yêu quái hiện nguyên hình quỳ dưới chân
chàng xin dung toàn tánh mạng. Chàng bằng lòng tha tội nhưng buộc
yêu quái phải trân trọng hứa lui về tu luyện để thoát xác thành người
mà không được trá hình đạo sĩ để lừa bịp và tìm cách nuốt sống
những kẻ khờ dại dễ tin.
Một lần khác, chàng gặp một vị đường quan, rất có dáng dấp một
bậc cha mẹ dân. Vị đường quan râu dài bạc phơ, hứa sẽ trọng dụng
chàng và đã chịu khó thức suốt một đêm để bàn với chàng về những
điều chánh trị ích quốc lợi dân. Vị đường quan đã tỏ ra mình là một
người thiết tha đến hạnh phúc muôn dân, nhưng khi đưa mê ngộ
cảnh lên, chàng hoảng hốt nhận đó là một con heo khổng lồ với cặp
mắt háu đói, thèm khát, vô cùng khủng khiếp. Chàng đứng dậy rút
gươm chém. Yêu quái bỏ chạy nhưng chàng đã nhảy ra đứng chận
giữa cửa công đường và hét bảo nó hiện nguyên hình. Con heo kinh
khiếp hiện hình quỳ dưới chân chàng cầu xin tha tội và hứa sẽ về tu
luyện tinh tấn, thoát xác biếng lười, không còn dám trá hình để rúc rỉa
xương thịt người dân vô tội.
Có một hôm, đi ngang qua chợ, chàng thấy thiên hạ già trẻ trai gái
xúm quanh ngôi hàng sách. Người đang bày bán sách và tranh cho
mọi người là một cô gái mặt hoa da phấn, trên miệng luôn luôn sẵn
ầ
ồ
có một nụ cười. Thiên hạ trầm trồ khen ngợi tranh vẽ và thi nhau mua
sách. Bên cạnh cô ta lại có một cô gái khác, cũng mặt hoa da phấn,
tay ôm đàn, miệng cất tiếng hát khiến mọi người đã mua sách phải
mê mẫn tâm thần không muốn ra khỏi cửa hàng. Thật là một cảnh
thái bình nên thơ. Chàng cũng ngây ngất đứng nghe, và cuối cùng
chàng lại gần cầm lên một bức họa. Màu sắc làm chàng choáng
ngợp, nhưng qua nội dung chàng thấy thoáng gợn trong tâm linh một
ít nghi ngờ. Đưa mê ngộ cảnh lên nhìn, chàng hốt hoảng thấy nguyên
hình hai con rắn độc, phun nọc phè phè. Chàng vội gạt mọi người ra,
rút bảo kiếm, quát lên: Nghiệt súc! đừng phun nọc độc hại người. Mọi
người chạy tán loạn. Hai con rắn độc văng mình tới. Nhưng trước
thần lực của lưỡi bảo kiếm, cuối cùng đành phải khoanh tròn dưới
gối chàng van xin thứ tội. Chàng dùng bảo kiếm cắt đứt nọc độc, đốt
cháy cửa hàng và tha cho yêu súc, buộc cả hai phải hứa trở về núi tu
luyện cho thoát kiếp ngậm nọc phun người. Cứ thế, chàng đã sử
dụng bảo kiếm và mê ngộ cảnh theo đúng lời sư phụ dặn để cứu
người và giúp đời.
Chàng đã sống miệt mài với nhiệm vụ. Đã từ lâu chàng vẫn tự cho
rằng chàng là người dũng sĩ cần thiết cho cuộc đời. Cuộc đời không
thể vắng bóng chàng. Chàng đã trà trộn trong cuộc sống, có khi
thành công, nhưng cũng nhiều khi thất bại. Đối diện với cuộc sống
đầy mưu mô gian trá, nhiều lúc chàng phải uốn mình, linh động theo
hoàn cảnh để chinh phục và chiến thắng. Có lúc chàng say sưa miệt
mài trong công việc. Chàng cảm thấy thích thú khi hành động. Có khi
chàng say mê quên cả ăn cả nghỉ, vì một sự theo đuổi mà chàng
cảm thấy vì vui thích mà thực hiện hơn là ý thức rằng mình cần hoạt
động để mà phụng sự. Thời gian trôi cứ như thế cho đến bảy năm.
Một hôm trong lúc ngồi nghỉ bên một dòng sông, nhìn dòng nước
lặng lẽ trôi, chàng giật mình thấy đã từ lâu, gần hai năm nay, chàng
không dùng đến mê ngộ cảnh. Chàng không dùng, không phải là
chàng quên rằng mình có mê ngộ cảnh, mà chỉ vì chàng thấy không
thích dùng. Chàng nhớ lại trước đây đã có một thời chàng dùng mê
ngộ cảnh một cách miễn cưỡng. Chàng nhớ lại những ngày mới
xuống núi ấy, chàng đã chiến đấu rất hăng hái khi thấy nguyên hình
những yêu quái xuất hiện trên mê ngộ cảnh. Chàng cũng cảm thấy
ấ
hân hoan vô hạn khi soi thấy trên mê ngộ cảnh hình dáng các bậc
hiền nhân. Nhưng trong thời gian trước đây, một cái gì khác lạ đã
đến trong tâm hồn chàng, đến lúc nào chàng không nhận rõ. Chàng
đã không thiết tha lắm khi nhìn thấy hình bóng một bậc hiền nhân,
mà cũng không giận dữ lắm khi thấy một bóng hình yêu quái. Trong
bóng hình yêu quái đó, đôi khi chàng lại nhận ra một vài nét hơi quen
thuộc, và lưỡi bảo kiếm đã có thờ ơ khi có những bóng hình yêu quái
xuất hiện trước kính thần.
Cho đến những ngày gần đây, chàng không dùng mê ngộ cảnh nữa.
Chiếc kính vẫn nằm trong túi áo chàng, nhưng đã từ lâu không còn
được sử dụng. Chàng lấy làm lạ và đã nói nhiều lần định quay về hỏi
sư phụ. Nhưng đã ba tháng qua, bận bịu những gì không đâu, chàng
chưa có thể trở về. Mãi cho đến hôm mười hai tháng tám trước đây,
đi qua một rừng mai hoa nở, thấy sắc hoa trắng như tuyết lấp lánh
dưới ánh trăng thu, nhớ đến những ngày thơ ấu bên rừng mai già
học tập dưới chân thầy, chàng mới quyết định trở về. Đường về sao
chàng thấy xa quá. Bảy ngày trèo non lặn suối mới về tới được chỗ
cũ.
Nhưng đến chân núi thì trời đã tối. Trăng cũng vừa lên và hai cánh
cửa tùng cũng đã khép chặt lối mòn. Chàng đành phải đợi. Buổi
sáng, người sư đệ của chàng thế nào cũng phải xuống suối múc
nước, và như vậy sẽ mở cửa cho chàng. Trăng đã lên tới quá đỉnh
đầu, ánh trăng vằng vặc chiếu xuống rừng núi âm u. Trời càng về
khuya càng lạnh. Chàng lại rút kiếm ra nhìn. Ánh trăng lại lấp lánh
trên lưỡi kiếm. Chàng lại tra kiếm vào vỏ. Trên mặt chàng thoáng nét
ưu tư sầu muộn. Chàng đứng dậy. Trăng sáng quá. Núi rừng vẫn u
tịch và lạnh lùng. Chàng ngồi xuống phiến đá chờ đợi. Quãng đời bảy
năm qua lại trở về trong trí óc chàng. Trăng dần dần về phía núi xa.
Ngàn sao lấp lánh linh động hơn, và cuối cùng bắt đầu mờ nhạt.
Phương đông đã nhuộm dần ánh sáng mờ mờ.
Đường viền ngọn núi đã nổi dần trên vầng sáng nhạt. Bình minh sắp
về. Chàng nghe tiếng lá khô xào xạc trên núi. Ngửng lên chàng thấy
một bóng người mờ nhạt từ trên đi xuống. Chắc hẳn là người sư đệ
ố
ấ
của chàng. Trời đang tối quá chàng nhìn không rõ, chỉ thấy hình
bóng.
Nhưng chắc chắn đó là người sư đệ, bởi vì tay có cầm tịnh bình.
Chàng đứng dậy. Bóng người tiến xuống và khi đến gần cánh cửa thì
cũng vừa nhận ra được chàng dũng sĩ.
- Đại huynh
- Sư đệ!
- Đại huynh về bao giờ thế ?
- Ta về lúc trăng mới lên và phải đợi cả đêm dưới này. Tại sao sư
phụ lại cho đóng bít lối lên như thế ?
Người sư đệ mỉm cười đưa nhẹ tay mở cửa. Hai cánh cửa tùng bật
ra một cách dễ dàng. Bước ra nắm lấy tay chàng và nhìn chàng tận
mặt.
- Đại huynh ở một đêm giữa trời chắc lạnh lắm. Sương phủ ướt áo
thế này mà, thôi để tiểu đệ phủi bớt cho. Trước kia đệ thường ở dưới
núi hái rau nhặt củi và luôn tiện canh chừng người lên núi. Lâu lâu
mới có một người lên núi. Nếu tiểu đệ thấy ai đáng lên hầu sư phụ thì
tiểu đệ cho lên, nếu họ không đáng lên thì em lẫn tránh để cho họ lạc
đường. Sư huynh biết rằng sư phụ không bao giờ muốn tiếp những
người lên núi với tâm niệm không lành. Độ này tiểu đệ bận tập luyện
luôn mà sư phụ cũng bận ngồi tĩnh tọa trong thạch động nên người
dặn cho đệ khép cửa chắn ngang lối lên dưới này. Sư phụ có trao
phép lạ khiến cho cửa tự động mở ra khi các bậc hiền nhân đến.
Nhưng khi những kẻ phàm tục lên thì cửa cứ đóng chặt không thể
nào vượt qua được. Nhất là khi kẻ ấy có yêu khí thì đừng mong lên
núi.
Chàng dũng sĩ cau mày:
- Nhưng không lẽ ta mà lại là yêu quái ? Sao cửa lại đóng chặt?”
Người sư đệ cười lớn:
- Vâng đại huynh sao lại là yêu quái được! Đệ cũng quên đi mất là
tại sao cửa lại đóng. Nhưng bây giờ dù sao thì đại huynh cũng lên núi
được rồi cơ mà, vì cửa đã mở. Nhưng đại huynh đợi em chút nhé.
Để tiểu đệ xuống suối múc nước rồi cùng lên một thể. Hay đại huynh
xuống suối với đệ cho vui. Cười lên chứ, đại huynh giận ai mà nét
mặt trông khó đăm đăm như vậy.
Hai anh em cười vang. Chàng dũng sĩ đi theo người sư đệ xuống
suối. Mặt trời vẫn chưa lên, nhưng phương đông đã rạng. Hai người
đã có thể nhìn rõ mặt nhau. Mặt suối lặng trong, in màu hồng của
rạng đông. Bóng hai người đứng song song in hình trên mặt suối.
Chàng dũng sĩ trong bộ võ phục hiên ngang, lưng đeo trường kiếm.
Người sư đệ trong y phục tiểu đồng hòa nhã, tay cầm tịnh bình. Hai
người cùng nhìn bóng mình in trên mặt nước mỉm cười. Một con bọ
nước nhảy, làm mặt nước hồng gợn nhẹ và bóng hai người rung
rung theo làn sóng nước gợn.
- Bóng chúng ta trên mặt nước đẹp quá nhỉ! Nếu bây giờ tiểu đệ
múc nước thì sóng dậy và bóng tan mất. À này đại huynh "mê ngộ
cảnh" sư phụ cho đại huynh còn giữ đó không?
Chàng dũng sĩ cho tay vào túi trả lời:
- Còn đây
- Tại sao chúng ta không đem ra chiếu hình chúng ta xem nào.
Chàng sực nhớ là từ lâu chàng chưa chiếu mê thử trước hình bóng
mình. Chàng lấy kính thần ra, lau bụi vào vạt áo, chiếu trên mặt
nước. Hai anh em châu đầu vào mặt kính.
Nhưng bỗng cả hai người cùng hét lên một tiếng kinh hoàng, khủng
khiếp, và tiếp theo đó chàng dũng sĩ ngã quỵ trên bờ suối bất tỉnh.
Tiếng thét kinh khủng làm chấn động cả núi rừng hoang dại. Một con
nai đang uống nước phía trên dòng hoảng hốt đưa đầu lên nhìn, ngơ
ấ
ầ
ngác kinh sợ. Người sư đệ vừa trông thấy trong kính thần, hình bóng
của mình đứng bên cạnh hình bóng một con yêu to lớn với đôi mắt
tối sâu như hai miệng giếng không đáy, hai chiếc răng dài quập sâu
vào chiếc càm vuông, trên một khuôn mặt xám ngoẹt như gà cắt tiết.
Người sư đệ rùng mình dụi mắt nhìn lại, trên bờ suối đá xanh, chàng
dũng sĩ vẫn nằm ngã lăn bất tỉnh, trên mặt vẫn còn in rõ nét kinh
hoàng, đau khổ hiện hình một cách thảm hại trên con người đã từng
xông pha lăn lộn bảy năm trong cuộc đời đầy cát bụi.
Người sư đệ đến ôm lấy chàng dũng sĩ và lấy nước suối vã vào mặt
chàng. Vài phút sau, chàng tỉnh dậy, nét mặt vô cùng bi thảm. Hình
bóng trên mê ngộ cảnh hiện ra bất ngờ quá và ý thức tự giác trong
nháy mắt đã làm cho chàng ngã quỵ. Chàng đã mất hết nghị lực, mất
hết sự sống. Tứ chi chàng rời rã, chàng không thể đứng dậy được
nữa. Một chân quỵ xuống cát, người sư đệ dịu dàng nâng chàng ngồi
dậy. Nét thiểu não và khổ đau còn in rõ trên khuôn mặt chàng.
- Thôi, đại huynh vui lên. Chúng ta sẽ lại lên núi
Giọng nói của người sư đệ êm như một hơi gió thoảng, nhẹ như một
tiếng thì thầm. Nhưng chàng lắc đầu một cách thất vọng. Chàng
không còn muốn sống. Đau khổ đã làm chàng thảm não và tâm hồn
chàng vừa bị tàn phá tang thương như mặt đất sau cơn phong vũ
điên cuồng. Chàng không còn dám có ý tưởng lên núi để nhìn mặt sư
phụ. Người sư đệ vuốt tóc chàng, an ủi:
- Thầy thương anh lắm. Không sao đâu, đại huynh sẽ ở mãi bên
thầy (vỗ về). Đại huynh sẽ sống bên em như những ngày xưa êm
đẹp cũ (khóc). Em không ngờ bao nhiêu năm dưới núi đã tàn hại anh
đến thế.
Và người ta thấy trên con đường mòn cheo leo lên núi, bóng người
sư đệ lần từng bước dìu chàng dũng sĩ trở lên động. Trời vẫn còn
chưa sáng hẳn, bóng hai người in trên màn sương mỏng nhẹ của núi
rừng buổi sáng. Tia nắng đầu tiên soi rõ dáng điệu thiểu não rời rã
của chàng dũng sĩ bên cạnh dáng điệu diệu dàng từ hòa của người
sư đệ. Mặt trời đã nhô khỏi đỉnh núi xa.
Một Bó Hoa Đồng
Ngày xưa có một bác nông phu tánh tình dễ thương, người vợ bác
sanh được hai người con thì mất. Bác nuôi hai con cho đến khi thằng
anh lên mười sáu tuổi và con em lên mười một thì bác thọ bịnh và
qua đời. Theo lời di chúc của bác, hai người con chôn bác trên một
đám ruộng nhà, một đám ruộng xung quanh có trồng nhiều cây ô môi
và cây so đũa.
Dù nhà nghèo, bác nông phu đã quyết tâm không bán bớt ruộng đất
của ông cha để lại. Trong di chúc truyền miệng lại sáu đời, cha ông
chúng ta căn dặn rằng: “Con cháu không ai có quyền bán đất.”
Hai anh em nghe nói rằng tổ tiên cách đây sáu đời đã từ miền trung
di cư tới; trước đó đất đai miền này chưa được khai phá, và chưa
thuộc quyền sở hữu của bất cứ tư nhân nào. Bốn đám ruộng hiện
nay là công trình khai phá của thế hệ đầu tiên vào nam lập nghiệp.
Có thể họ không phải là nông phu mà chỉ là người ẩn sĩ, học lấy
những nghề để tìm đường thoát khỏi những ràng buộc của hoạn lộ
chông gai. Từ đó, con cháu trở thành nông phu thuần tuý. Trước khi
mất, bác nông phu đã gọi hai con đến bên giường vá dặn dò nghiêm
mật:
- Cha đã từng nói với các con là bốn đám ruộng nhà mình không ai
được bán. Sau khi cha mất đi các con phải giữ gìn khai thác những
đám ruộng ấy, không cho ai thuê mướn. Đã từ năm đời nay, cha ông
chúng ta tin có vàng có bạc, châu báu chôn ở một nơi trong bốn tấm
ruộng đó. N hưng từ ấy đến nay chưa ai tìm ra được. Nghe nói là tổ
tiên của chúng ta từ miền Trung vào đây đã chôn dấu những kho
tàng ấy. Các ngài có để lại một bài kệ nói trang 44 của cuốn gia phả.
Ông nội các con nói rằng bài kệ ấy có thể là chìa khóa đi tìm chỗ
chôn kho bảo vật. Đã từ năm đời, chưa ai tìm được bảo vật, bởi vì
chưa ai hiểu được ý nghĩa sâu kín của bài kệ. Ông nội các con có
nói với cha rằng, muốn hiểu được ý nghĩa sâu xa của bài kệ thì phải
để ra thật nhiều thời giờ mà chiêm nghiệm. Trong suốt cuộc đời của
ấ
ông nội các con, đất nước chúng ta thường bị loạn lạc, và ông nội
các con thường phải đi lánh nạn nhiều lần. nhà của bị tan nát, ông
nội các con đã phải cực nhọc lắm mới xây dựng được căn nhà này.
Vì thế ông nội các con không có thì giờ để nghiền ngẫm bài kệ.
Trước khi mất, ông nội các con có căn dặn lại mọi điều, và hy vọng
rằng cha sẽ có tháng rộng năm dài mà chiêm nghiệm về bài kệ.
Nhưng than ôi, dù không bị chạy loạn, dù không phải lo cất lại nhà,
cha vẫn không có được thì giờ để làm công việc ấy. Sau khi cưới mẹ
các con, cha tưởng rằng công việc đồng áng sẽ nhàn hạ hơn, bởi vì
mẹ con cũng là con gái một nông dân cần mẫn lắm. Mẹ con rất đảm
đang, không những lo lắng hết công việc trong nhà mà còn giúp cha
rất đắc lực trong công việc ngoài đồng. Tuy vậy cha vẫn không có
được chút thì giờ rộng rãi cần thiết để làm cái công việc mà bao
nhiêu thế hệ mong mỏi mà chưa làm được.
Nay thì hoài bão đã trao về thế hệ các con. Hãy đừng quá bận rộn
như cha. Hãy làm đủ ăn mà thôi, đừng phí hết thì giờ vào việc mưu
sinh. Các con hãy thay cha mà tìm ra được ý nghĩa sâu xa của bài
kệ, tìm ra được kho vàng. Như thế thì mới khỏi phụ lòng của tiên tổ
chúng ta nơi chín suối. Cuốn gia phả cha vẫn cất trong chiếc hộp gỗ
đặt trên bàn thờ. Các con phải nhớ là bài kệ ở trang 44.
Sau khi chôn cất cha xong, hai anh em lạy trước bàn thờ tổ tiên và
thỉnh cuốn gia phả xuống, cung kính mở ra đúng trang 44. Người anh
đọc bài kệ như sau:
Thượng vô phiến ngõa giá
Hạ vô trác chùy địa
Hoặc dịch phục trực nghệ
Hoặc sách trượng nhi chí
Động chuyển xúc xứ gian
Tợ long dước thôn nhĩ. [1]
Cả hai ngồi lặng yên thật lâu. Tuần nhang cháy đã gần hết trên bàn
thờ, cô em gái mới lên tiếng:
ể
- Anh hai có hiểu được chút gì không? Em nghe bài kệ hay hay
nhưng em chẳng hiểu được chút nào hết.
Người anh không đáp, lẳng lặng xếp cuốn gia phả lại, bỏ vào hộp gỗ,
kính cấn đặt lại trên bàn thờ. Cả hai lại sụp lạy trước tổ tiên. Một lúc
lâu, người anh nói:
- Đúng như lời của ông nội dạy. Phải có tháng rộng năm dài mới
hiểu lời của tiên tổ. Chúng ta sẽ nghe lời nội dạy. Nhất định là sau khi
thu xếp của nhà, chúng ta sẽ để thì giờ thật nhiều để chuyên tâm
nghiên cứu về bài kệ.
Năm tháng qua mau.
Hai anh em nhà kia đã xây dựng lại căn nhà tổ tiên thành một ngôi
nhà mới. Họ được mùa liên tiếp trong sáu năm, nên dư sức xây lại
ngôi nhà. Mái ngói đỏ chói. Những cây mít ngoài sân xanh mát sum
xuê, trái trĩu nặng từ gốc tới ngọn. Vựa lúa không khi nào vơi. Hai
con trâu đen khoẻ mạnh thay nhau kéo cày vỡ những thửa ruộng đất
đen như mun, làm mọc lên những cánh đồng lúa xanh mơn mởn. Hai
anh em làm ăn khá giả. Người trong làng hầu hết đều yêu mến hai
người. Người anh cũng như người anh, cả hai đều tốt bụng. Có
người tới vay lúa, họ không bao giờ từ chối, không bao giờ lấy lãi
một thành hai như mọi người. Không có kẻ túng bẩn nào đến gõ cửa
mà cửa không mở. Người làm lụng phụ với anh em đều là người
chân thật, biết xem của chủ như của mình. Khách khứa vào những
ngày kỵ giỗ, ra vào tấp nập. Ai cũng khen là anh em tốt phước. Các
cô gái trong làng đều để ý tới người anh. Nhưng chưa bao giờ người
anh nghĩ đến chuyện cưới vợ. Anh ta nhất quyết không lấy vợ, để có
thể có nhiều thì giờ nghiền ngẫm tới bài kệ của tiên tổ để lại trong
cuốn gia phả trên bàn thờ.
Cô em gái cũng đến tuổi lấy chồng. Các chàng trai làng cũng đều
ngắm nghé, bởi vì cô vừa thùy mị xinh đẹp, vừa hiền hậu nhân từ. Cô
lại là một người làm ruộng giỏi, giúp anh quán xuyến công việc từ
trong tới ngoài. Nhiều người đã nhờ mai mối tới dạm, nhưng cô thảy
ố
ồ
ố
ể
từ chối. Có lẽ là cô cũng đồng ý với anh cô: sống độc thân để có đủ
tự do và thời gian mà tìm ra ý nghĩa của bài kệ.
Nhưng hai anh em chưa ai tìm ra được ý nghĩa của bài thơ. Công
việc làm ăn tuy chẳng có gì bận rộn quá mức, nhưng cả hai đều
không thấy có thì giờ. Nợ nần không có, nhà cửa khang trang, ruộng
đất phì nhiêu, mùa màng không thất bát, người làm lụng giúp đỡ
không thiếu, tại sau thì giờ lại cứ như tên bay? Có lúc người anh nằm
vắt tay trên trán suy nghĩ suốt đêm. Cơ nghiệp của cha ông để lại,
anh đã gánh vác tốt đẹp, nhưng tại sao trong lòng anh thấy không
vui? Bài thâm diệu kia có dính líu gì tới cuộc đời anh? Tại sao chưa
tìm ra được ý nghĩa mầu nhiệm của nó thì anh vẫn không thấy trong
lòng an ổn? Anh thật có cần tìm ra kho vàng bạc của cha ông để lại
chăng? Hay chỉ cần làm theo lòng mong đợi từ đời này sang đời
khác của họ? Lắm khi anh tự nghĩ: cơ nghiệp mà anh đã xây dựng,
nào nhà cửa, nào vườn tược ruộng nương, chính là trở ngại cho sự
tìm kiếm của anh. Một ngày chỉ có hai mươi bốn giờ đồng hồ. Thức
dậy, cơm sáng ra đồng; bữa trưa nghỉ lưng dưới gốc cây trên bờ
ruộng; buổi chiều chăm lo công việc cho đến khi trâu bò về chuồng.
Buổi tối, sau khi tắm rửa và ăn cơm, anh đi ngủ. Ngày nào cũng như
ngày nào. Gặp những ngày hội anh cũng nghỉ ngơi rong chơi, tham
dự. Nào có bận bịu gì lắm cho đang. Có ai tay không làm mà hàm có
nhai đâu. Một ngôi nhà, một vựa lúa, những thửa ruộng, một đàn trâu
bò… đó có phải là một nơi nương tựa căn bản hay không? Trên cái
căn bản ấy, tại sao anh chưa lên đường đi tìm? Anh còn thiếu thốn
gì? thì giờ. Ông nội anh nói đến thì giờ. Cha anh nói đến thì giờ. Bây
giờ anh cũng nói đến thì giờ. Thì thì giờ đấy – Anh mới có hai mươi
tuổi. Làm gì cho hết thì giờ. Tuy nhiên anh không có thì giờ. Không
nhà cửa ruộng nương thì không có miếng đất cắm dùi, anh sẽ đi lang
thang. Có nhà cửa ruộng nương, anh phải dùng đời anh vào việc
chăm sóc nhà cửa ruộng nương. Anh trằn trọc không ngủ. Anh nghĩ
đến những đạo sĩ ngày xưa bỏ làng bỏ xóm, bỏ cửa bỏ nhà, đi vào
rừng sâu hiu quạnh để tìm đạo. Anh nghĩ: “Ừ, có lẽ phải bỏ hết mới
có được thì giờ. Nhưng làm sao mà bỏ. Cơ nghiệp tổ tiên để lại ai lại
bỏ đi. Với lại kho vàng nằm trong những đám ruộng của mình. Bỏ đi
là mình mất hết.”
ế
ế ố
ấ
Cứ như thế, năm tháng lại tiếp nối qua mau. Thấm thoát mà chàng
nông phu đã gần ba mươi tuổi. Niềm thao thức nói anh không chết,
trái lại càng ngày càng sâu đậm hơn. Đời sống hằng ngày trở nên vô
vị. Những ngày mùa, lúa chín đầy đồng, thợ gặt hái vui đùa vừa hát
vừa làm việc. Những đêm trăng đập lúa, trai gái trong làng hội họp
hát hò, anh không còn thấy vui nữa. Cô em gái bảo anh:
- Hay là anh để em quán xuyến hết mọi công việc nhà cửa và đồng
áng để anh hoàn toàn rỗi rảnh mà lo chiêm nghiệm bài kệ? Em thấy
anh không còn hạnh phúc nữa.
Ban đầu, chàng nông phu thấy ý kiến của cô em gái thật hay. Nhưng
khi đem ý kiến đó ra thi hành, chàng thấy đó không phải là việc dễ.
Đã đành, cô em gái có đủ khả năng quán xuyến mọi việc trong nhà
ngoài ngõ, nhưng tại sao anh lại không thể ở không? Anh đã quen
công việc quá rồi, không động tay vào công việc thì anh ngứa ngáy
hai tay và đôi mắt. Anh chợt thấy, anh không thể ở không được. Anh
đem ý ấy ra nói với cô em gái. Cuối cùng hai anh em tìm ra được
một giải pháp: người anh tạm giao cho em tất cả sự nghiệp, còn
mình thì tìm một ngôi chùa miền trung xa xôi, ở lại đấy cho đến khi
chiêm nghiệm ra được ý nghĩa của bài kệ. Trong thời gian ấy, cô em
gái cứ gửi lúa ra cúng chùa mỗi tháng là mười giạ. Họ nghĩ: Khung
cảnh chùa thật là thích hợp cho sự chiêm nghiệm bài kệ. Ở chùa,
chàng nông phu sẽ rảnh được hoàn toàn mà suy nghĩ tới bài thơ,
không còn bị công việc đồng án ám ảnh nữa. Thế là chàng chuẩn bị
để lên đường.
Chàng nông phu bước chầm chậm trên con đường làng, khăn gói
trên vai. Hôm nay chàng trở về nông trại sau ba năm cư trú nơi thiền
môn. Trời nắng, con đường làng vắng vẻ, chàng chưa gặp một bóng
người. Đi đến ngã tư có cây đa già, chàng dừng lại tránh nắng.
Chàng đặt khăn gói xuống đất và ngồi trên một cái rễ cây. Cảnh vật
im lìm. Hồn buổi trưa nao nao.
Ba năm cư trú nơi thiền môn đã giúp cho chàng được những gì? Ba
năm sống trong chùa chàng cũng phải làm lụng như mọi người trong
ố
ồ
đại chúng. Gánh nước, lặt rau, đốn củi, trồng khoai. Công việc có
phần nặng nhọc hơn cả công việc ở nhà, vì ở nhà chàng còn có
người giúp việc đỡ đần, còn ở chùa thì ai cũng phải làm việc như
nhau. Những giạ lúa cô em gửi ra cúng chùa, không đỡ đần được
công việc cho chàng, bởi vì chấp lao phục dịch là một phần của công
phu tu hành, không ai tránh khỏi. Bài kệ chàng học thuộc lòng từng
câu, từng chữ một. Chàng đọc thầm trong trí hàng vạn lần trong
những giờ ngồi thiền. Nhưng không vỡ vạc ra được tí nào. Hai câu
đầu chàng cho là bí hiểm nhất:
Trên không manh ngói che
Dưới không chỗ cắm dùi
Một địa điểm như thế thì thật có khác gì một phi-địa-điểm. Không lý là
một cái ao? Một cái ao vẫn có thể cắm dùi được. Mà trong bốn thửa
ruộng làm gì có ao? Chỉ có cái ao bèo sau nhà mà thôi. Không lý kho
tàng lại chôn dấu dưới đáy ao? Hay là kho tàng che dấu dưới một
tảng đá? Đúng rồi, trên một tảng đá thì không thể cắm dùi được. Mà
trong bốn đám ruộng chàng thường cày bừa, làm gì có một tảng đá
nào? Chàng nghĩ: Một nơi mà “trên không manh ngói che” thì phải
là một nơi lộ thiên. Như vậy thì phải loại ra những nền nhà cũ và mới.
Chàng cho là chàng hiểu được câu ấy. Còn câu thứ hai “dưới
không chỗ cắm dùi” thì chàng còn phân vân. Đến hai câu:
Hoặc mặc áo lạ lại
Hoặc xách gậy mà tới
Thì chàng càng phân vân hơn. Có thể là nơi chôn cất những tổ tiên
đầu đến lập nghiệp ở đây. Hai câu thơ gợi ý đám tang: Nhưng mồ
mả tổ tiên đều nằm giữa nghĩa địa trong làng, chứ không phải trong
bốn thử ruộng. trong đám ruộng xung quanh có trồng cây và sua đũa
thì chỉ có mộ của cha mẹ chàng mà thôi. Trong khi đó thì bài kệ đã để
lại từ sáu đời rồi. Kho vàng không thể nào được chôn ở nghĩa địa.
Hai câu chót cũng làm chàng lạc lõng không kém:
ế
ể
Lúc tiếp xúc động chuyển
Như rồng nhảy đớp mồi
Ban đầu chàng nghĩ đó là địa lý. Có lẻ một thầy địa lý giỏi có thể tìm
ra được vị trí chôn cất kho tàng. Vị trí này có lẽ là vị trí con rồng, và
miệng con rồng. Một thầy địa lí giỏi có thể quan sát để tìm ra trong
bốn thửa ruộng của chàng cái vị trí miệng rồng để giúp chàng đào lên
kho tàng của cha ông để lại. Nhưng nghĩ cho kỹ lại, đất ruộng phẳng
lỳ trong một diện tích hàng mấy trăm cây số làm gì có rồng xanh hổ
trắng?
Có lần chàng đưa bài kệ cho một vị thượng toạ trong chùa để nhờ
ngài giải thích, may ra tìm được ý nào chăng. Vị thượng tọa đọc
xong, hỏi chàng chép được ở sách ngữ lục [1] nào? Nghe nói chép
ở một cuốn gia phả, người cau mày, lấy làm ngạc nhiên. Ngài nói
người viết ra bài kệ có dáng dấp một bực xuất thế. Theo lời vị
thượng tọa, bài kệ chẳng có dính dấp gì tới địa lý hết. Ba năm trôi
qua, chàng không hiểu thêm được gì về bài kệ. Chỉ có lòng chàng là
có đổi thay ít nhiều. Chàng nhìn sự thật chăm chú hơn. Ước ao tìm
thấy kho vàng của tổ tiên yếu đi. tuy vậy, chàng cảm thấy giữa bài kệ
và cuộc sống hàng ngày, giữa bài kệ và sự ăn uống ngủ nghỉ, làm
việc của chàng có một liên hệ gì mật thiết lắm. Mật thiết như là giòng
máu của cha ông còn lưu nhuận trong cơ thể của chàng.
Ánh nắng đã dịu, chiều mát xuống. Chàng đứng lên, nâng khăn gói
vác lên vai, và hướng về phía thôn Hạ nhà chàng. Lúa hai bên
đường xanh mơn mởn, ngọn lúa gọn nhẹ theo gió chiều. Lòng chàng
man mác một niềm vui. Bổng tiếng hát của ai thoảng bay tới trong
gió, giọng hát tươi vui như sóng lúa mơn mởn. Chàng dừng lại lắng
nghe. Tiếng hát càng ngày càng rõ. Chàng nhận ra đó là tiếng hát
của cô em gái chàng. Hướng về tiếng hát, chàng rảo bước đi tìm em,
lòng rộn ràng như tết. Đi một quảng nữa, chàng rẽ vào con đường đi
tới đình làng.
Từ phía ruộng dâu đi lên, em gái chàng đang đi giữa đàn trâu bò, tay
ôm một đóa hoa đồng, vừa đi vừa hát. Cô vẫn chưa trông thấy anh
ấ
ế
mình. Nhưng kìa, cô đã trong thấy chàng với chiếc tay nãi trên vai và
vội vàng chạy tới. Chàng nông phu cũng chạy lại với em. Thuận tay
cô đưa bó hua hái được ngoài đồng cho chàng.
Chàng nông phu bước lùi lại một vài bước, nhìn cô em gái mình. Cô
cũng ngước mắt nhìn anh, mỉm cười. Nàng nhìn anh từ đầu đến
chân. Nàng nhìn bộ áo nâu chàng mặc, tay nãi màu xám chàng mang
trên vai, nàng nhìn vào mắt chàng. Lạ quá, chàng nông phu thấy cái
nhìn của em mát rượi như một dòng suối làm thư thái cả thân tâm
chàng, Bỗng nhiên bao ưu tư tan biến mất hết, chàng thấy lòng nhẹ
nhõm như đám mây bay. Đúng rồi, đó là cô em ruột của chàng,
nhưng cái nhìn của cô bao dung và che chở như cái nhìn của một bà
mẹ.
Hai anh em lùa đàn trâu bò lên đồi cỏ. Họ đến ngồi trên một mô đất
có bóng cây im mát. Chàng bắt đầu kể cho cô em gái nghe ba năm
tập tành trên chùa. Nàng nghe chăm chú, không bỏ sót chi tiết nào và
không hề ngắt lời chàng.
Chàng kể xong hết chuyện mình rồi quay lại nhìn em. Nước da nàng
đen, thân hình nàng mạnh khoẻ, hai mắt nàng sáng và nụ cười thật
tươi mát hiền lành. Nàng vốn ít nói. Bây giờ lại càng ít nói hơn.
Nhưng trong dáng điệu và cái nhìn của cô em, người anh thấy cô đã
tìm ra sự bình an và một nguồn hạnh phúc. Chàng nói thêm cho em
nghe về những suy nghĩ sau này của về bài kệ trong cuốn gia phả,
và tỏ ý ngạc nhiên là chàng không còn tha thiết mấy đến việc tìm
kiếm kho vàng của tổ tiên để lại.
Đến lượt nàng kể chuyện nàng:
“Sau ngày anh ra đi, một mình em coi sóc cửa nhà ruộng nương,
nhưng em không cho đó là công việc nặng nhọc khó khăn. Cho nên
em đã làm công việc đồng áng một cách thảnh thơi. Với sức anh, chỉ
trong bảy hôm là anh cày hết ruộng nhà. Em đã để ra đến mười hai
hôm, cày thong thả, biết rằng cố gắng làm cho mau xong thì cũng thế
ế
...
Khi chàng dũng sĩ về đến chân núi thì trăng cũng vừa lên. Trăng
mười chín soi sáng cảnh núi rừng cô tịch. Ánh trăng nhấp nháy đùa
giỡn trên lá cây. Đêm thu mát lạnh. Cảnh vật hình như không có gì
đổi thay sau bảy năm xa cách. Cảnh vật tuy không xa lạ, nhưng cũng
không thân mật chào đón người cũ từ phương lạ trở về. Chàng dũng
sĩ dừng lại ở chân núi, nhìn lên.
Trước mặt chàng, con đường mòn lên núi đã bị đôi cánh cửa tùng
khép chặt. Chàng đưa tay cố đẩy. Nhưng hai cánh cửa kiên cố vẫn
im lìm không lay chuyển dưới sức mạnh của đôi cánh tay chàng.
Chàng lấy làm lạ. Ngày xưa chẳng bao giờ sư phụ chàng lại cho
đóng chặt cửa lên núi như thế này. Chỉ có một con đường đưa tới
am sư phụ mà thôi, nhưng bây giờ lại bị đóng chặt. Hớn hở chàng vỗ
tay vào đốc kiếm, phi thân nhảy qua, nhưng chàng không nhảy qua
khỏi. Một mãnh lực gì níu lấy thân chàng trở lại, khiến chàng không
cất mình lên khỏi hai cánh cửa tùng. Chàng rút gươm định chém rời
cánh cửa, nhưng khi chạm tới cánh cửa, lưỡi gươm văng trở lại như
vừa chạm vào thép cứng. Chàng chùn tay, đưa lưỡi gươm lên nhìn.
Lưỡi thép sáng loáng dưới ánh trăng. Cánh cửa tùng rắn quá, và
hình như đã thu nhận thần lực của sư phụ chàng, nên đã đóng kín
đường mòn lại một cách hết sức vững chãi. Chàng thở dài cho
gươm vào vỏ rồi ngồi phịch xuống tấm đá lớn gần bên, ôm đầu nghĩ
ngợi. Bảy năm về trước, chàng còn nhớ rõ khi chàng xuống núi, sư
phụ chàng đã lặng lẽ nhìn chàng một hồi lâu, không nói năng gì. Cái
nhìn của Người tuy dịu dàng nhưng có lẫn đôi chút xót thương.
Chàng đã cúi đầu im lặng trước đôi mắt dịu hiền và cái nhìn bao
dung của sư phụ. Hồi lâu Người mới thong thả bảo chàng:
- Ta không thể giữ con ở mãi bên ta. Thế nào con cũng phải xuống
núi để hành đạo, để cứu người và giúp đời. Ta cho rằng con có thể ở
lại cùng ta trong một thời gian nữa trước khi con rời ta xuống núi.
Nay con đã muốn xuống thì con cứ xuống. Nhưng con ạ, ta mong
ề
ố
ồ
con nhớ những điều ta dặn khi con đã đi vào cuộc sống đồng sự và
lợi hành.
Rồi Người cặn kẽ dặn chàng về những điều chàng nên tránh, và về
những điều chàng nên làm. Sau hết, Người từ tốn và dịu dàng để tay
trên vai chàng:
- Con phải nhớ những tiêu chuẩn hành động mà ta đã truyền thọ cho
con trong năm sáu năm trời học tập. Chớ bao giờ làm một việc gì có
thể gây khổ đau cho mình và cho kẻ khác, trong hiện tại cũng như
trong tương lai. Hãy tiến bước mạnh dạn trên con đường mà con
chắc có thể đưa con và mọi người về nơi giác ngộ. Nên nhớ muôn
đời những tiêu chuẩn khổ vui và mê ngộ mà hành Đạo, độ Đời.
"Thanh bảo kiếm mà ta đã trao cho con, con hãy sử dụng nó để diệt
trừ ma chướng. Hãy xem đó như lưỡi gươm trí tuệ nơi tâm con sẽ
dùng để hàng phục mê chướng và si vọng. Nhưng để giúp con, ta
cho con thêm một bảo bối này để con có thể thành tựu công quả một
cách dễ dàng.
Người thong thả lấy trong tay áo ra một chiếc kính nhỏ và đưa cho
chàng:
- Đây là Mê Ngộ Cảnh. Tấm kính này sẽ giúp con biết rõ thiện ác,
chính tà. Có người gọi nó là kính chiếu yêu, bởi vì qua tấm kính này,
con có thể thấy được nguyên hình của loài yêu quái.”
Chàng nhận bảo kính và cảm động đến nỗi nói không nên lời. Tờ mờ
sáng hôm sau, chàng lên bái biệt sư phụ xuống núi. Người tiễn
chàng xuống tận dòng Hổ Khê và thầy trò từ biệt nhau trong tiếng
suối róc rách chảy. Sư phụ đặt bàn tay hiền dịu trên vai chàng nhìn
thẳng vào cặp mắt chàng. Và nhìn theo chàng dũng sĩ ra đi. Người
còn dặn theo:
- Nhớ không con, nghèo khổ không thay đổi, vũ lực không khuất
phục, giàu sang không mờ ám nhé. Ta ở đây đợi ngày con mang đạt
nguyện trở về.
ầ
ố
ế
Chàng nhớ lại những ngày đầu tiên xuống núi tiếp xúc với cuộc đời.
Chàng đã gặp trên con đường hành đạo bao bộ mặt khác nhau của
con người, đã dùng bảo kiếm và mê ngộ cảnh của sư phụ chàng một
cách có hiệu quả. Chàng còn nhớ có một lần kia, trên con đường
hành đạo, chàng gặp một vị đạo sĩ tay cầm phất trần, đi lại gần
chàng và mời chàng về động để bàn tính công việc giúp đời. Đạo sĩ
tỏ ra rất hăng hái với việc cứu nhân độ thế và giúp ích mọi loài. Ban
đầu, chàng say sưa nghe theo lời đạo sĩ.
Nhưng trong lúc tiếp xúc với vị đạo sĩ, chàng nhận thấy người này có
vẻ khả nghi. Chàng đưa tay rút mê ngộ cảnh ra chiếu. Trước mắt
chàng, không phải là một đạo sĩ mà là một con yêu lớn có hai nanh
dài, một cặp sừng trên trán và hai con mắt xanh lè đổ lửa. Chàng vội
nhảy lui lại và rút bảo kiếm chém. Yêu quái cố sức kháng cự, nhưng
cuối cùng, chàng thắng, và yêu quái hiện nguyên hình quỳ dưới chân
chàng xin dung toàn tánh mạng. Chàng bằng lòng tha tội nhưng buộc
yêu quái phải trân trọng hứa lui về tu luyện để thoát xác thành người
mà không được trá hình đạo sĩ để lừa bịp và tìm cách nuốt sống
những kẻ khờ dại dễ tin.
Một lần khác, chàng gặp một vị đường quan, rất có dáng dấp một
bậc cha mẹ dân. Vị đường quan râu dài bạc phơ, hứa sẽ trọng dụng
chàng và đã chịu khó thức suốt một đêm để bàn với chàng về những
điều chánh trị ích quốc lợi dân. Vị đường quan đã tỏ ra mình là một
người thiết tha đến hạnh phúc muôn dân, nhưng khi đưa mê ngộ
cảnh lên, chàng hoảng hốt nhận đó là một con heo khổng lồ với cặp
mắt háu đói, thèm khát, vô cùng khủng khiếp. Chàng đứng dậy rút
gươm chém. Yêu quái bỏ chạy nhưng chàng đã nhảy ra đứng chận
giữa cửa công đường và hét bảo nó hiện nguyên hình. Con heo kinh
khiếp hiện hình quỳ dưới chân chàng cầu xin tha tội và hứa sẽ về tu
luyện tinh tấn, thoát xác biếng lười, không còn dám trá hình để rúc rỉa
xương thịt người dân vô tội.
Có một hôm, đi ngang qua chợ, chàng thấy thiên hạ già trẻ trai gái
xúm quanh ngôi hàng sách. Người đang bày bán sách và tranh cho
mọi người là một cô gái mặt hoa da phấn, trên miệng luôn luôn sẵn
ầ
ồ
có một nụ cười. Thiên hạ trầm trồ khen ngợi tranh vẽ và thi nhau mua
sách. Bên cạnh cô ta lại có một cô gái khác, cũng mặt hoa da phấn,
tay ôm đàn, miệng cất tiếng hát khiến mọi người đã mua sách phải
mê mẫn tâm thần không muốn ra khỏi cửa hàng. Thật là một cảnh
thái bình nên thơ. Chàng cũng ngây ngất đứng nghe, và cuối cùng
chàng lại gần cầm lên một bức họa. Màu sắc làm chàng choáng
ngợp, nhưng qua nội dung chàng thấy thoáng gợn trong tâm linh một
ít nghi ngờ. Đưa mê ngộ cảnh lên nhìn, chàng hốt hoảng thấy nguyên
hình hai con rắn độc, phun nọc phè phè. Chàng vội gạt mọi người ra,
rút bảo kiếm, quát lên: Nghiệt súc! đừng phun nọc độc hại người. Mọi
người chạy tán loạn. Hai con rắn độc văng mình tới. Nhưng trước
thần lực của lưỡi bảo kiếm, cuối cùng đành phải khoanh tròn dưới
gối chàng van xin thứ tội. Chàng dùng bảo kiếm cắt đứt nọc độc, đốt
cháy cửa hàng và tha cho yêu súc, buộc cả hai phải hứa trở về núi tu
luyện cho thoát kiếp ngậm nọc phun người. Cứ thế, chàng đã sử
dụng bảo kiếm và mê ngộ cảnh theo đúng lời sư phụ dặn để cứu
người và giúp đời.
Chàng đã sống miệt mài với nhiệm vụ. Đã từ lâu chàng vẫn tự cho
rằng chàng là người dũng sĩ cần thiết cho cuộc đời. Cuộc đời không
thể vắng bóng chàng. Chàng đã trà trộn trong cuộc sống, có khi
thành công, nhưng cũng nhiều khi thất bại. Đối diện với cuộc sống
đầy mưu mô gian trá, nhiều lúc chàng phải uốn mình, linh động theo
hoàn cảnh để chinh phục và chiến thắng. Có lúc chàng say sưa miệt
mài trong công việc. Chàng cảm thấy thích thú khi hành động. Có khi
chàng say mê quên cả ăn cả nghỉ, vì một sự theo đuổi mà chàng
cảm thấy vì vui thích mà thực hiện hơn là ý thức rằng mình cần hoạt
động để mà phụng sự. Thời gian trôi cứ như thế cho đến bảy năm.
Một hôm trong lúc ngồi nghỉ bên một dòng sông, nhìn dòng nước
lặng lẽ trôi, chàng giật mình thấy đã từ lâu, gần hai năm nay, chàng
không dùng đến mê ngộ cảnh. Chàng không dùng, không phải là
chàng quên rằng mình có mê ngộ cảnh, mà chỉ vì chàng thấy không
thích dùng. Chàng nhớ lại trước đây đã có một thời chàng dùng mê
ngộ cảnh một cách miễn cưỡng. Chàng nhớ lại những ngày mới
xuống núi ấy, chàng đã chiến đấu rất hăng hái khi thấy nguyên hình
những yêu quái xuất hiện trên mê ngộ cảnh. Chàng cũng cảm thấy
ấ
hân hoan vô hạn khi soi thấy trên mê ngộ cảnh hình dáng các bậc
hiền nhân. Nhưng trong thời gian trước đây, một cái gì khác lạ đã
đến trong tâm hồn chàng, đến lúc nào chàng không nhận rõ. Chàng
đã không thiết tha lắm khi nhìn thấy hình bóng một bậc hiền nhân,
mà cũng không giận dữ lắm khi thấy một bóng hình yêu quái. Trong
bóng hình yêu quái đó, đôi khi chàng lại nhận ra một vài nét hơi quen
thuộc, và lưỡi bảo kiếm đã có thờ ơ khi có những bóng hình yêu quái
xuất hiện trước kính thần.
Cho đến những ngày gần đây, chàng không dùng mê ngộ cảnh nữa.
Chiếc kính vẫn nằm trong túi áo chàng, nhưng đã từ lâu không còn
được sử dụng. Chàng lấy làm lạ và đã nói nhiều lần định quay về hỏi
sư phụ. Nhưng đã ba tháng qua, bận bịu những gì không đâu, chàng
chưa có thể trở về. Mãi cho đến hôm mười hai tháng tám trước đây,
đi qua một rừng mai hoa nở, thấy sắc hoa trắng như tuyết lấp lánh
dưới ánh trăng thu, nhớ đến những ngày thơ ấu bên rừng mai già
học tập dưới chân thầy, chàng mới quyết định trở về. Đường về sao
chàng thấy xa quá. Bảy ngày trèo non lặn suối mới về tới được chỗ
cũ.
Nhưng đến chân núi thì trời đã tối. Trăng cũng vừa lên và hai cánh
cửa tùng cũng đã khép chặt lối mòn. Chàng đành phải đợi. Buổi
sáng, người sư đệ của chàng thế nào cũng phải xuống suối múc
nước, và như vậy sẽ mở cửa cho chàng. Trăng đã lên tới quá đỉnh
đầu, ánh trăng vằng vặc chiếu xuống rừng núi âm u. Trời càng về
khuya càng lạnh. Chàng lại rút kiếm ra nhìn. Ánh trăng lại lấp lánh
trên lưỡi kiếm. Chàng lại tra kiếm vào vỏ. Trên mặt chàng thoáng nét
ưu tư sầu muộn. Chàng đứng dậy. Trăng sáng quá. Núi rừng vẫn u
tịch và lạnh lùng. Chàng ngồi xuống phiến đá chờ đợi. Quãng đời bảy
năm qua lại trở về trong trí óc chàng. Trăng dần dần về phía núi xa.
Ngàn sao lấp lánh linh động hơn, và cuối cùng bắt đầu mờ nhạt.
Phương đông đã nhuộm dần ánh sáng mờ mờ.
Đường viền ngọn núi đã nổi dần trên vầng sáng nhạt. Bình minh sắp
về. Chàng nghe tiếng lá khô xào xạc trên núi. Ngửng lên chàng thấy
một bóng người mờ nhạt từ trên đi xuống. Chắc hẳn là người sư đệ
ố
ấ
của chàng. Trời đang tối quá chàng nhìn không rõ, chỉ thấy hình
bóng.
Nhưng chắc chắn đó là người sư đệ, bởi vì tay có cầm tịnh bình.
Chàng đứng dậy. Bóng người tiến xuống và khi đến gần cánh cửa thì
cũng vừa nhận ra được chàng dũng sĩ.
- Đại huynh
- Sư đệ!
- Đại huynh về bao giờ thế ?
- Ta về lúc trăng mới lên và phải đợi cả đêm dưới này. Tại sao sư
phụ lại cho đóng bít lối lên như thế ?
Người sư đệ mỉm cười đưa nhẹ tay mở cửa. Hai cánh cửa tùng bật
ra một cách dễ dàng. Bước ra nắm lấy tay chàng và nhìn chàng tận
mặt.
- Đại huynh ở một đêm giữa trời chắc lạnh lắm. Sương phủ ướt áo
thế này mà, thôi để tiểu đệ phủi bớt cho. Trước kia đệ thường ở dưới
núi hái rau nhặt củi và luôn tiện canh chừng người lên núi. Lâu lâu
mới có một người lên núi. Nếu tiểu đệ thấy ai đáng lên hầu sư phụ thì
tiểu đệ cho lên, nếu họ không đáng lên thì em lẫn tránh để cho họ lạc
đường. Sư huynh biết rằng sư phụ không bao giờ muốn tiếp những
người lên núi với tâm niệm không lành. Độ này tiểu đệ bận tập luyện
luôn mà sư phụ cũng bận ngồi tĩnh tọa trong thạch động nên người
dặn cho đệ khép cửa chắn ngang lối lên dưới này. Sư phụ có trao
phép lạ khiến cho cửa tự động mở ra khi các bậc hiền nhân đến.
Nhưng khi những kẻ phàm tục lên thì cửa cứ đóng chặt không thể
nào vượt qua được. Nhất là khi kẻ ấy có yêu khí thì đừng mong lên
núi.
Chàng dũng sĩ cau mày:
- Nhưng không lẽ ta mà lại là yêu quái ? Sao cửa lại đóng chặt?”
Người sư đệ cười lớn:
- Vâng đại huynh sao lại là yêu quái được! Đệ cũng quên đi mất là
tại sao cửa lại đóng. Nhưng bây giờ dù sao thì đại huynh cũng lên núi
được rồi cơ mà, vì cửa đã mở. Nhưng đại huynh đợi em chút nhé.
Để tiểu đệ xuống suối múc nước rồi cùng lên một thể. Hay đại huynh
xuống suối với đệ cho vui. Cười lên chứ, đại huynh giận ai mà nét
mặt trông khó đăm đăm như vậy.
Hai anh em cười vang. Chàng dũng sĩ đi theo người sư đệ xuống
suối. Mặt trời vẫn chưa lên, nhưng phương đông đã rạng. Hai người
đã có thể nhìn rõ mặt nhau. Mặt suối lặng trong, in màu hồng của
rạng đông. Bóng hai người đứng song song in hình trên mặt suối.
Chàng dũng sĩ trong bộ võ phục hiên ngang, lưng đeo trường kiếm.
Người sư đệ trong y phục tiểu đồng hòa nhã, tay cầm tịnh bình. Hai
người cùng nhìn bóng mình in trên mặt nước mỉm cười. Một con bọ
nước nhảy, làm mặt nước hồng gợn nhẹ và bóng hai người rung
rung theo làn sóng nước gợn.
- Bóng chúng ta trên mặt nước đẹp quá nhỉ! Nếu bây giờ tiểu đệ
múc nước thì sóng dậy và bóng tan mất. À này đại huynh "mê ngộ
cảnh" sư phụ cho đại huynh còn giữ đó không?
Chàng dũng sĩ cho tay vào túi trả lời:
- Còn đây
- Tại sao chúng ta không đem ra chiếu hình chúng ta xem nào.
Chàng sực nhớ là từ lâu chàng chưa chiếu mê thử trước hình bóng
mình. Chàng lấy kính thần ra, lau bụi vào vạt áo, chiếu trên mặt
nước. Hai anh em châu đầu vào mặt kính.
Nhưng bỗng cả hai người cùng hét lên một tiếng kinh hoàng, khủng
khiếp, và tiếp theo đó chàng dũng sĩ ngã quỵ trên bờ suối bất tỉnh.
Tiếng thét kinh khủng làm chấn động cả núi rừng hoang dại. Một con
nai đang uống nước phía trên dòng hoảng hốt đưa đầu lên nhìn, ngơ
ấ
ầ
ngác kinh sợ. Người sư đệ vừa trông thấy trong kính thần, hình bóng
của mình đứng bên cạnh hình bóng một con yêu to lớn với đôi mắt
tối sâu như hai miệng giếng không đáy, hai chiếc răng dài quập sâu
vào chiếc càm vuông, trên một khuôn mặt xám ngoẹt như gà cắt tiết.
Người sư đệ rùng mình dụi mắt nhìn lại, trên bờ suối đá xanh, chàng
dũng sĩ vẫn nằm ngã lăn bất tỉnh, trên mặt vẫn còn in rõ nét kinh
hoàng, đau khổ hiện hình một cách thảm hại trên con người đã từng
xông pha lăn lộn bảy năm trong cuộc đời đầy cát bụi.
Người sư đệ đến ôm lấy chàng dũng sĩ và lấy nước suối vã vào mặt
chàng. Vài phút sau, chàng tỉnh dậy, nét mặt vô cùng bi thảm. Hình
bóng trên mê ngộ cảnh hiện ra bất ngờ quá và ý thức tự giác trong
nháy mắt đã làm cho chàng ngã quỵ. Chàng đã mất hết nghị lực, mất
hết sự sống. Tứ chi chàng rời rã, chàng không thể đứng dậy được
nữa. Một chân quỵ xuống cát, người sư đệ dịu dàng nâng chàng ngồi
dậy. Nét thiểu não và khổ đau còn in rõ trên khuôn mặt chàng.
- Thôi, đại huynh vui lên. Chúng ta sẽ lại lên núi
Giọng nói của người sư đệ êm như một hơi gió thoảng, nhẹ như một
tiếng thì thầm. Nhưng chàng lắc đầu một cách thất vọng. Chàng
không còn muốn sống. Đau khổ đã làm chàng thảm não và tâm hồn
chàng vừa bị tàn phá tang thương như mặt đất sau cơn phong vũ
điên cuồng. Chàng không còn dám có ý tưởng lên núi để nhìn mặt sư
phụ. Người sư đệ vuốt tóc chàng, an ủi:
- Thầy thương anh lắm. Không sao đâu, đại huynh sẽ ở mãi bên
thầy (vỗ về). Đại huynh sẽ sống bên em như những ngày xưa êm
đẹp cũ (khóc). Em không ngờ bao nhiêu năm dưới núi đã tàn hại anh
đến thế.
Và người ta thấy trên con đường mòn cheo leo lên núi, bóng người
sư đệ lần từng bước dìu chàng dũng sĩ trở lên động. Trời vẫn còn
chưa sáng hẳn, bóng hai người in trên màn sương mỏng nhẹ của núi
rừng buổi sáng. Tia nắng đầu tiên soi rõ dáng điệu thiểu não rời rã
của chàng dũng sĩ bên cạnh dáng điệu diệu dàng từ hòa của người
sư đệ. Mặt trời đã nhô khỏi đỉnh núi xa.
Một Bó Hoa Đồng
Ngày xưa có một bác nông phu tánh tình dễ thương, người vợ bác
sanh được hai người con thì mất. Bác nuôi hai con cho đến khi thằng
anh lên mười sáu tuổi và con em lên mười một thì bác thọ bịnh và
qua đời. Theo lời di chúc của bác, hai người con chôn bác trên một
đám ruộng nhà, một đám ruộng xung quanh có trồng nhiều cây ô môi
và cây so đũa.
Dù nhà nghèo, bác nông phu đã quyết tâm không bán bớt ruộng đất
của ông cha để lại. Trong di chúc truyền miệng lại sáu đời, cha ông
chúng ta căn dặn rằng: “Con cháu không ai có quyền bán đất.”
Hai anh em nghe nói rằng tổ tiên cách đây sáu đời đã từ miền trung
di cư tới; trước đó đất đai miền này chưa được khai phá, và chưa
thuộc quyền sở hữu của bất cứ tư nhân nào. Bốn đám ruộng hiện
nay là công trình khai phá của thế hệ đầu tiên vào nam lập nghiệp.
Có thể họ không phải là nông phu mà chỉ là người ẩn sĩ, học lấy
những nghề để tìm đường thoát khỏi những ràng buộc của hoạn lộ
chông gai. Từ đó, con cháu trở thành nông phu thuần tuý. Trước khi
mất, bác nông phu đã gọi hai con đến bên giường vá dặn dò nghiêm
mật:
- Cha đã từng nói với các con là bốn đám ruộng nhà mình không ai
được bán. Sau khi cha mất đi các con phải giữ gìn khai thác những
đám ruộng ấy, không cho ai thuê mướn. Đã từ năm đời nay, cha ông
chúng ta tin có vàng có bạc, châu báu chôn ở một nơi trong bốn tấm
ruộng đó. N hưng từ ấy đến nay chưa ai tìm ra được. Nghe nói là tổ
tiên của chúng ta từ miền Trung vào đây đã chôn dấu những kho
tàng ấy. Các ngài có để lại một bài kệ nói trang 44 của cuốn gia phả.
Ông nội các con nói rằng bài kệ ấy có thể là chìa khóa đi tìm chỗ
chôn kho bảo vật. Đã từ năm đời, chưa ai tìm được bảo vật, bởi vì
chưa ai hiểu được ý nghĩa sâu kín của bài kệ. Ông nội các con có
nói với cha rằng, muốn hiểu được ý nghĩa sâu xa của bài kệ thì phải
để ra thật nhiều thời giờ mà chiêm nghiệm. Trong suốt cuộc đời của
ấ
ông nội các con, đất nước chúng ta thường bị loạn lạc, và ông nội
các con thường phải đi lánh nạn nhiều lần. nhà của bị tan nát, ông
nội các con đã phải cực nhọc lắm mới xây dựng được căn nhà này.
Vì thế ông nội các con không có thì giờ để nghiền ngẫm bài kệ.
Trước khi mất, ông nội các con có căn dặn lại mọi điều, và hy vọng
rằng cha sẽ có tháng rộng năm dài mà chiêm nghiệm về bài kệ.
Nhưng than ôi, dù không bị chạy loạn, dù không phải lo cất lại nhà,
cha vẫn không có được thì giờ để làm công việc ấy. Sau khi cưới mẹ
các con, cha tưởng rằng công việc đồng áng sẽ nhàn hạ hơn, bởi vì
mẹ con cũng là con gái một nông dân cần mẫn lắm. Mẹ con rất đảm
đang, không những lo lắng hết công việc trong nhà mà còn giúp cha
rất đắc lực trong công việc ngoài đồng. Tuy vậy cha vẫn không có
được chút thì giờ rộng rãi cần thiết để làm cái công việc mà bao
nhiêu thế hệ mong mỏi mà chưa làm được.
Nay thì hoài bão đã trao về thế hệ các con. Hãy đừng quá bận rộn
như cha. Hãy làm đủ ăn mà thôi, đừng phí hết thì giờ vào việc mưu
sinh. Các con hãy thay cha mà tìm ra được ý nghĩa sâu xa của bài
kệ, tìm ra được kho vàng. Như thế thì mới khỏi phụ lòng của tiên tổ
chúng ta nơi chín suối. Cuốn gia phả cha vẫn cất trong chiếc hộp gỗ
đặt trên bàn thờ. Các con phải nhớ là bài kệ ở trang 44.
Sau khi chôn cất cha xong, hai anh em lạy trước bàn thờ tổ tiên và
thỉnh cuốn gia phả xuống, cung kính mở ra đúng trang 44. Người anh
đọc bài kệ như sau:
Thượng vô phiến ngõa giá
Hạ vô trác chùy địa
Hoặc dịch phục trực nghệ
Hoặc sách trượng nhi chí
Động chuyển xúc xứ gian
Tợ long dước thôn nhĩ. [1]
Cả hai ngồi lặng yên thật lâu. Tuần nhang cháy đã gần hết trên bàn
thờ, cô em gái mới lên tiếng:
ể
- Anh hai có hiểu được chút gì không? Em nghe bài kệ hay hay
nhưng em chẳng hiểu được chút nào hết.
Người anh không đáp, lẳng lặng xếp cuốn gia phả lại, bỏ vào hộp gỗ,
kính cấn đặt lại trên bàn thờ. Cả hai lại sụp lạy trước tổ tiên. Một lúc
lâu, người anh nói:
- Đúng như lời của ông nội dạy. Phải có tháng rộng năm dài mới
hiểu lời của tiên tổ. Chúng ta sẽ nghe lời nội dạy. Nhất định là sau khi
thu xếp của nhà, chúng ta sẽ để thì giờ thật nhiều để chuyên tâm
nghiên cứu về bài kệ.
Năm tháng qua mau.
Hai anh em nhà kia đã xây dựng lại căn nhà tổ tiên thành một ngôi
nhà mới. Họ được mùa liên tiếp trong sáu năm, nên dư sức xây lại
ngôi nhà. Mái ngói đỏ chói. Những cây mít ngoài sân xanh mát sum
xuê, trái trĩu nặng từ gốc tới ngọn. Vựa lúa không khi nào vơi. Hai
con trâu đen khoẻ mạnh thay nhau kéo cày vỡ những thửa ruộng đất
đen như mun, làm mọc lên những cánh đồng lúa xanh mơn mởn. Hai
anh em làm ăn khá giả. Người trong làng hầu hết đều yêu mến hai
người. Người anh cũng như người anh, cả hai đều tốt bụng. Có
người tới vay lúa, họ không bao giờ từ chối, không bao giờ lấy lãi
một thành hai như mọi người. Không có kẻ túng bẩn nào đến gõ cửa
mà cửa không mở. Người làm lụng phụ với anh em đều là người
chân thật, biết xem của chủ như của mình. Khách khứa vào những
ngày kỵ giỗ, ra vào tấp nập. Ai cũng khen là anh em tốt phước. Các
cô gái trong làng đều để ý tới người anh. Nhưng chưa bao giờ người
anh nghĩ đến chuyện cưới vợ. Anh ta nhất quyết không lấy vợ, để có
thể có nhiều thì giờ nghiền ngẫm tới bài kệ của tiên tổ để lại trong
cuốn gia phả trên bàn thờ.
Cô em gái cũng đến tuổi lấy chồng. Các chàng trai làng cũng đều
ngắm nghé, bởi vì cô vừa thùy mị xinh đẹp, vừa hiền hậu nhân từ. Cô
lại là một người làm ruộng giỏi, giúp anh quán xuyến công việc từ
trong tới ngoài. Nhiều người đã nhờ mai mối tới dạm, nhưng cô thảy
ố
ồ
ố
ể
từ chối. Có lẽ là cô cũng đồng ý với anh cô: sống độc thân để có đủ
tự do và thời gian mà tìm ra ý nghĩa của bài kệ.
Nhưng hai anh em chưa ai tìm ra được ý nghĩa của bài thơ. Công
việc làm ăn tuy chẳng có gì bận rộn quá mức, nhưng cả hai đều
không thấy có thì giờ. Nợ nần không có, nhà cửa khang trang, ruộng
đất phì nhiêu, mùa màng không thất bát, người làm lụng giúp đỡ
không thiếu, tại sau thì giờ lại cứ như tên bay? Có lúc người anh nằm
vắt tay trên trán suy nghĩ suốt đêm. Cơ nghiệp của cha ông để lại,
anh đã gánh vác tốt đẹp, nhưng tại sao trong lòng anh thấy không
vui? Bài thâm diệu kia có dính líu gì tới cuộc đời anh? Tại sao chưa
tìm ra được ý nghĩa mầu nhiệm của nó thì anh vẫn không thấy trong
lòng an ổn? Anh thật có cần tìm ra kho vàng bạc của cha ông để lại
chăng? Hay chỉ cần làm theo lòng mong đợi từ đời này sang đời
khác của họ? Lắm khi anh tự nghĩ: cơ nghiệp mà anh đã xây dựng,
nào nhà cửa, nào vườn tược ruộng nương, chính là trở ngại cho sự
tìm kiếm của anh. Một ngày chỉ có hai mươi bốn giờ đồng hồ. Thức
dậy, cơm sáng ra đồng; bữa trưa nghỉ lưng dưới gốc cây trên bờ
ruộng; buổi chiều chăm lo công việc cho đến khi trâu bò về chuồng.
Buổi tối, sau khi tắm rửa và ăn cơm, anh đi ngủ. Ngày nào cũng như
ngày nào. Gặp những ngày hội anh cũng nghỉ ngơi rong chơi, tham
dự. Nào có bận bịu gì lắm cho đang. Có ai tay không làm mà hàm có
nhai đâu. Một ngôi nhà, một vựa lúa, những thửa ruộng, một đàn trâu
bò… đó có phải là một nơi nương tựa căn bản hay không? Trên cái
căn bản ấy, tại sao anh chưa lên đường đi tìm? Anh còn thiếu thốn
gì? thì giờ. Ông nội anh nói đến thì giờ. Cha anh nói đến thì giờ. Bây
giờ anh cũng nói đến thì giờ. Thì thì giờ đấy – Anh mới có hai mươi
tuổi. Làm gì cho hết thì giờ. Tuy nhiên anh không có thì giờ. Không
nhà cửa ruộng nương thì không có miếng đất cắm dùi, anh sẽ đi lang
thang. Có nhà cửa ruộng nương, anh phải dùng đời anh vào việc
chăm sóc nhà cửa ruộng nương. Anh trằn trọc không ngủ. Anh nghĩ
đến những đạo sĩ ngày xưa bỏ làng bỏ xóm, bỏ cửa bỏ nhà, đi vào
rừng sâu hiu quạnh để tìm đạo. Anh nghĩ: “Ừ, có lẽ phải bỏ hết mới
có được thì giờ. Nhưng làm sao mà bỏ. Cơ nghiệp tổ tiên để lại ai lại
bỏ đi. Với lại kho vàng nằm trong những đám ruộng của mình. Bỏ đi
là mình mất hết.”
ế
ế ố
ấ
Cứ như thế, năm tháng lại tiếp nối qua mau. Thấm thoát mà chàng
nông phu đã gần ba mươi tuổi. Niềm thao thức nói anh không chết,
trái lại càng ngày càng sâu đậm hơn. Đời sống hằng ngày trở nên vô
vị. Những ngày mùa, lúa chín đầy đồng, thợ gặt hái vui đùa vừa hát
vừa làm việc. Những đêm trăng đập lúa, trai gái trong làng hội họp
hát hò, anh không còn thấy vui nữa. Cô em gái bảo anh:
- Hay là anh để em quán xuyến hết mọi công việc nhà cửa và đồng
áng để anh hoàn toàn rỗi rảnh mà lo chiêm nghiệm bài kệ? Em thấy
anh không còn hạnh phúc nữa.
Ban đầu, chàng nông phu thấy ý kiến của cô em gái thật hay. Nhưng
khi đem ý kiến đó ra thi hành, chàng thấy đó không phải là việc dễ.
Đã đành, cô em gái có đủ khả năng quán xuyến mọi việc trong nhà
ngoài ngõ, nhưng tại sao anh lại không thể ở không? Anh đã quen
công việc quá rồi, không động tay vào công việc thì anh ngứa ngáy
hai tay và đôi mắt. Anh chợt thấy, anh không thể ở không được. Anh
đem ý ấy ra nói với cô em gái. Cuối cùng hai anh em tìm ra được
một giải pháp: người anh tạm giao cho em tất cả sự nghiệp, còn
mình thì tìm một ngôi chùa miền trung xa xôi, ở lại đấy cho đến khi
chiêm nghiệm ra được ý nghĩa của bài kệ. Trong thời gian ấy, cô em
gái cứ gửi lúa ra cúng chùa mỗi tháng là mười giạ. Họ nghĩ: Khung
cảnh chùa thật là thích hợp cho sự chiêm nghiệm bài kệ. Ở chùa,
chàng nông phu sẽ rảnh được hoàn toàn mà suy nghĩ tới bài thơ,
không còn bị công việc đồng án ám ảnh nữa. Thế là chàng chuẩn bị
để lên đường.
Chàng nông phu bước chầm chậm trên con đường làng, khăn gói
trên vai. Hôm nay chàng trở về nông trại sau ba năm cư trú nơi thiền
môn. Trời nắng, con đường làng vắng vẻ, chàng chưa gặp một bóng
người. Đi đến ngã tư có cây đa già, chàng dừng lại tránh nắng.
Chàng đặt khăn gói xuống đất và ngồi trên một cái rễ cây. Cảnh vật
im lìm. Hồn buổi trưa nao nao.
Ba năm cư trú nơi thiền môn đã giúp cho chàng được những gì? Ba
năm sống trong chùa chàng cũng phải làm lụng như mọi người trong
ố
ồ
đại chúng. Gánh nước, lặt rau, đốn củi, trồng khoai. Công việc có
phần nặng nhọc hơn cả công việc ở nhà, vì ở nhà chàng còn có
người giúp việc đỡ đần, còn ở chùa thì ai cũng phải làm việc như
nhau. Những giạ lúa cô em gửi ra cúng chùa, không đỡ đần được
công việc cho chàng, bởi vì chấp lao phục dịch là một phần của công
phu tu hành, không ai tránh khỏi. Bài kệ chàng học thuộc lòng từng
câu, từng chữ một. Chàng đọc thầm trong trí hàng vạn lần trong
những giờ ngồi thiền. Nhưng không vỡ vạc ra được tí nào. Hai câu
đầu chàng cho là bí hiểm nhất:
Trên không manh ngói che
Dưới không chỗ cắm dùi
Một địa điểm như thế thì thật có khác gì một phi-địa-điểm. Không lý là
một cái ao? Một cái ao vẫn có thể cắm dùi được. Mà trong bốn thửa
ruộng làm gì có ao? Chỉ có cái ao bèo sau nhà mà thôi. Không lý kho
tàng lại chôn dấu dưới đáy ao? Hay là kho tàng che dấu dưới một
tảng đá? Đúng rồi, trên một tảng đá thì không thể cắm dùi được. Mà
trong bốn đám ruộng chàng thường cày bừa, làm gì có một tảng đá
nào? Chàng nghĩ: Một nơi mà “trên không manh ngói che” thì phải
là một nơi lộ thiên. Như vậy thì phải loại ra những nền nhà cũ và mới.
Chàng cho là chàng hiểu được câu ấy. Còn câu thứ hai “dưới
không chỗ cắm dùi” thì chàng còn phân vân. Đến hai câu:
Hoặc mặc áo lạ lại
Hoặc xách gậy mà tới
Thì chàng càng phân vân hơn. Có thể là nơi chôn cất những tổ tiên
đầu đến lập nghiệp ở đây. Hai câu thơ gợi ý đám tang: Nhưng mồ
mả tổ tiên đều nằm giữa nghĩa địa trong làng, chứ không phải trong
bốn thử ruộng. trong đám ruộng xung quanh có trồng cây và sua đũa
thì chỉ có mộ của cha mẹ chàng mà thôi. Trong khi đó thì bài kệ đã để
lại từ sáu đời rồi. Kho vàng không thể nào được chôn ở nghĩa địa.
Hai câu chót cũng làm chàng lạc lõng không kém:
ế
ể
Lúc tiếp xúc động chuyển
Như rồng nhảy đớp mồi
Ban đầu chàng nghĩ đó là địa lý. Có lẻ một thầy địa lý giỏi có thể tìm
ra được vị trí chôn cất kho tàng. Vị trí này có lẽ là vị trí con rồng, và
miệng con rồng. Một thầy địa lí giỏi có thể quan sát để tìm ra trong
bốn thửa ruộng của chàng cái vị trí miệng rồng để giúp chàng đào lên
kho tàng của cha ông để lại. Nhưng nghĩ cho kỹ lại, đất ruộng phẳng
lỳ trong một diện tích hàng mấy trăm cây số làm gì có rồng xanh hổ
trắng?
Có lần chàng đưa bài kệ cho một vị thượng toạ trong chùa để nhờ
ngài giải thích, may ra tìm được ý nào chăng. Vị thượng tọa đọc
xong, hỏi chàng chép được ở sách ngữ lục [1] nào? Nghe nói chép
ở một cuốn gia phả, người cau mày, lấy làm ngạc nhiên. Ngài nói
người viết ra bài kệ có dáng dấp một bực xuất thế. Theo lời vị
thượng tọa, bài kệ chẳng có dính dấp gì tới địa lý hết. Ba năm trôi
qua, chàng không hiểu thêm được gì về bài kệ. Chỉ có lòng chàng là
có đổi thay ít nhiều. Chàng nhìn sự thật chăm chú hơn. Ước ao tìm
thấy kho vàng của tổ tiên yếu đi. tuy vậy, chàng cảm thấy giữa bài kệ
và cuộc sống hàng ngày, giữa bài kệ và sự ăn uống ngủ nghỉ, làm
việc của chàng có một liên hệ gì mật thiết lắm. Mật thiết như là giòng
máu của cha ông còn lưu nhuận trong cơ thể của chàng.
Ánh nắng đã dịu, chiều mát xuống. Chàng đứng lên, nâng khăn gói
vác lên vai, và hướng về phía thôn Hạ nhà chàng. Lúa hai bên
đường xanh mơn mởn, ngọn lúa gọn nhẹ theo gió chiều. Lòng chàng
man mác một niềm vui. Bổng tiếng hát của ai thoảng bay tới trong
gió, giọng hát tươi vui như sóng lúa mơn mởn. Chàng dừng lại lắng
nghe. Tiếng hát càng ngày càng rõ. Chàng nhận ra đó là tiếng hát
của cô em gái chàng. Hướng về tiếng hát, chàng rảo bước đi tìm em,
lòng rộn ràng như tết. Đi một quảng nữa, chàng rẽ vào con đường đi
tới đình làng.
Từ phía ruộng dâu đi lên, em gái chàng đang đi giữa đàn trâu bò, tay
ôm một đóa hoa đồng, vừa đi vừa hát. Cô vẫn chưa trông thấy anh
ấ
ế
mình. Nhưng kìa, cô đã trong thấy chàng với chiếc tay nãi trên vai và
vội vàng chạy tới. Chàng nông phu cũng chạy lại với em. Thuận tay
cô đưa bó hua hái được ngoài đồng cho chàng.
Chàng nông phu bước lùi lại một vài bước, nhìn cô em gái mình. Cô
cũng ngước mắt nhìn anh, mỉm cười. Nàng nhìn anh từ đầu đến
chân. Nàng nhìn bộ áo nâu chàng mặc, tay nãi màu xám chàng mang
trên vai, nàng nhìn vào mắt chàng. Lạ quá, chàng nông phu thấy cái
nhìn của em mát rượi như một dòng suối làm thư thái cả thân tâm
chàng, Bỗng nhiên bao ưu tư tan biến mất hết, chàng thấy lòng nhẹ
nhõm như đám mây bay. Đúng rồi, đó là cô em ruột của chàng,
nhưng cái nhìn của cô bao dung và che chở như cái nhìn của một bà
mẹ.
Hai anh em lùa đàn trâu bò lên đồi cỏ. Họ đến ngồi trên một mô đất
có bóng cây im mát. Chàng bắt đầu kể cho cô em gái nghe ba năm
tập tành trên chùa. Nàng nghe chăm chú, không bỏ sót chi tiết nào và
không hề ngắt lời chàng.
Chàng kể xong hết chuyện mình rồi quay lại nhìn em. Nước da nàng
đen, thân hình nàng mạnh khoẻ, hai mắt nàng sáng và nụ cười thật
tươi mát hiền lành. Nàng vốn ít nói. Bây giờ lại càng ít nói hơn.
Nhưng trong dáng điệu và cái nhìn của cô em, người anh thấy cô đã
tìm ra sự bình an và một nguồn hạnh phúc. Chàng nói thêm cho em
nghe về những suy nghĩ sau này của về bài kệ trong cuốn gia phả,
và tỏ ý ngạc nhiên là chàng không còn tha thiết mấy đến việc tìm
kiếm kho vàng của tổ tiên để lại.
Đến lượt nàng kể chuyện nàng:
“Sau ngày anh ra đi, một mình em coi sóc cửa nhà ruộng nương,
nhưng em không cho đó là công việc nặng nhọc khó khăn. Cho nên
em đã làm công việc đồng áng một cách thảnh thơi. Với sức anh, chỉ
trong bảy hôm là anh cày hết ruộng nhà. Em đã để ra đến mười hai
hôm, cày thong thả, biết rằng cố gắng làm cho mau xong thì cũng thế
ế
...
 





