Sống Đơn Giản Cho Mình Thanh Thản - Chương 1
chuyen-o-nong-trai-george-orwell

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:27' 07-03-2024
Dung lượng: 2.6 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:27' 07-03-2024
Dung lượng: 2.6 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
Mục Lục
Giới thiệu
Chương I
Chương II
Chương III
Chương IV
Chương V
Chương VI
Chương VII
Chương VIII
Chương IX
Chương X
Giới thiệu
Câu chuyện bắt đầu ở Điền Trang của ông Jones. Vào một
đêm trường sau khi ông chủ Jones đã ngủ mê mệt vì say rượu,
các thú vật của Nông Trại Manor tụ họp trong nhà chứa cỏ để
nghe con heo già Old Major kể về một giấc mộng kỳ lạ. Khởi
đầu, bằng một giọng nói rõ ràng và đầy sức mạnh, Heo già
Major kể lại sự hiểu biết của mình về bản chất của cuộc đời.
Theo đó, các con vật được sinh ra phải làm việc cực nhọc, chịu
đựng gian khổ, không được ăn no, tới khi không còn sức lao
động nữa thì bị làm thịt. Chúng bị làm nô lệ cho loài người và
đây là giới sinh vật chỉ tiêu thụ mà không sản xuất. Vì vậy chỉ
còn một giải pháp: phải lật đổ loài người. Mọi con vật phải
đoàn kết lại vì một mục đích chung: nổi dậy.
Buổi họp bị gián đoạn một thời gian ngắn vì vài con chó
chạy đi đuổi chuột, tiếp theo Heo già Major đề nghị bỏ phiếu
quyết định loài chuột là đồng chí (comrades), kế tiếp mọi con
vật đều tán thành một quyết định khác của Heo già Major như
sau: Con người là Kẻ Thù. Các con vật vì vậy cần phải tránh
xa các thói quen của con người: không xài nhà ở, giường nằm,
quần áo, tiền bạc, mậu dịch, rượu. Và trên hết, Tất cả chúng ta
đều là Bạn. Không con vật nào được giết một con vật khác.
Mọi con vật đều bình đẳng. Heo già Major đã không thể mô tả
hết giấc mộng tốt đẹp của nó cho các con vật khác nghe và nó
cũng dạy cho các con vật kia hát bài ca Các thú vật của nước
Anh mà nó học được trong giấc mộng. Nhờ hát đi hát lại bài
ca cách mạng này, các con vật đều trở nên cuồng nhiệt.
Không lâu sau đó, Heo già Major qua đời nhưng các con
vật còn sống khác đều cần phải hiểu rõ nền Triết học Súc vật
chủ nghĩa (Animalism), đều phải nổi dậy chống lại ông chủ
Jones. Công tác giảng dạy và tổ chức quần chúng được giao
phó cho các con heo bởi vì loài heo được coi là những con vật
tinh khôn, khéo léo. Trong số các con vật này, có hai con tài
giỏi nhất là Heo Snowball và Heo Napoleon. Ngoài ra còn có
Heo Squealer, một kẻ ăn nói xuất sắc. Ngày tháng trôi dần
qua, ông chủ trại Jones càng uống nhiều rượu mạnh và càng
trễ nải việc chăm sóc nông trại. Rồi vào một buổi chiều kia,
khi ông Jones quên cho súc vật ăn uống sau một ngày dài, các
con vật phá cửa, xông vào máng ăn và giành ăn uống. Ông
Jones và các người làm công bèn dùng roi, gậy, đánh đập các
con vật. Các con vật đói ăn này không thể chịu đựng hơn được
nữa. Chúng bèn tấn công các kẻ đàn áp. Vừa ngạc nhiên, vừa
hoảng sợ, cả chủ lẫn tớ đều bị đuổi khỏi nông trại.
Thật là bất ngờ. Cuộc nổi dậy đã thành công. Ông chủ
Jones không còn nữa, Nông trại Manor từ nay thuộc về các súc
vật. Niềm vui của tất cả súc vật thật là vô kể, chúng là chủ
nhân và sẽ làm việc hòa thuận với nhau suốt đời…
Chương I
Chủ trại nông trang là ông Jones đã đóng cửa dãy chuồng
gà để đi ngủ, nhưng say quá quên không cài các cửa sập. Cầm
cây đèn bão hắt thành quầng sáng đung đưa qua lại, ông ta lảo
đảo đi qua sân, rũ ủng qua cửa hậu, tới thùng bia trong bếp
phụ châm một vại cuối ngày, rồi lên gác vào giường ngủ, nơi
bà Jones đã o o ngáy kỹ.
Ánh sáng từ phòng ngủ vừa tắt, khắp khu chuồng trại đã lao
xao nháo nhác hết cả. Suốt ngày hôm ấy trong trại đã truyền
tin cho nhau rằng Ông Cả, con lợn giống Trung Bạch từng
thắng giải đấu xảo ấy, vừa nằm mơ rất lạ vào đêm trước, nên
có điều muốn trao đổi đến toàn thể súc vật ở trại. Tất cả đã
thỏa thuận là toàn trại sẽ họp mặt trong nhà kho lớn khi ông
Jones rời đi yên ổn. Ông Cả (đấy là cách gọi đã quen, chứ khi
đi đấu xảo, tên nó ghi là Bạch Mao Willingdon) được cả trại
tôn kính, con nào cũng sẵn sàng bớt một giờ ngủ để đến nghe
điều nó muốn trình bày.
Ở đầu nhà kho lớn, trên các bục dựng cao, Ông Cả đã sớm
yên vị trong ổ rơm, dưới ngọn đèn bão treo trên rầm. Nó đã
mười hai tuổi, tuy dạo gần đây có hơi phệ, nhưng nhìn chung
trông vẫn oai nghiêm, dáng vẻ thông tuệ và nhân từ bất chấp
đôi răng nanh chưa bao giờ cắt. Chẳng mấy chốc các con vật
khác lục tục tới, con nào con ấy tìm chỗ thoải mái theo thói
quen loài mình. Đầu tiên là ba con chó: Hoa Chuông, Jessie và
Hàm Nghiến, tiếp đến là đàn lợn, chúng ngồi xuống mặt rơm
ngay trước cái bục cao. Gà mái đậu trên bậu cửa sổ, bồ câu vỗ
cánh bay lên xà ngang, cừu và bò cái nằm xuống sau đàn lợn,
ợ cỏ lên nhai lại. Đôi ngựa kéo xe thồ - Đấu Sĩ và Cỏ Ba Lá -
vào cùng nhau, chậm rãi và cẩn thận lựa từng bước đặt bộ vó
lớn rậm lông, đề phòng giẫm phải con vật nhỏ nào lấp trong
rơm. Cỏ Ba Lá là một chị ngựa đẫy đà hiền hậu, đã đến hồi
trung tuổi, thân mình xổ ra sau bốn lần sinh nở không cách nào
lấy lại dáng được. Đấu Sĩ thân hình khổng lồ, cao gần mười
tám gang tay, khỏe bằng hai ngựa thường. Sọc trắng dọc mũi
khiến nó có vẻ hơi đần, và thực tình nó cũng không thuộc loại
sáng láng gì lắm, nhưng được cái tính tình trung thực, sức làm
việc chẳng ai bì, khiến cả trại đều trọng nể. Theo sau đôi ngựa,
dê trắng Muriel và lừa Benjamin đi vào. Kể tuổi thì Benjamin
già nhất trại, tính khí cũng khó chịu nhất hạng. Nó đã ít mở
miệng thì chớ, hễ mở lại toàn buông ra những lời cay độc:
chẳng hạn, nó bảo trời cho nó cái đuôi xua ruồi, nhưng giá
không có đuôi cũng chẳng có ruồi thì còn tốt hơn. Cả trại súc
vật riêng mình nó không thấy cười bao giờ. Có ai hỏi, nó bảo
nó chẳng thấy gì đáng cười sất. Tuy nhiên, dù không nói ra
miệng, nó lại rất tận tình với Đấu Sĩ: mỗi Chủ nhật lại thấy cả
hai ở bên nhau trong bãi thả quây rào sau vườn quả, gặm cỏ
cạnh nhau chẳng nói chẳng rằng.
Đôi ngựa vừa nằm xuống, đã thấy lứa vịt con mới mồ côi
xếp hàng một vào nhà kho, vừa chiếp chiếp yếu ớt vừa ngó
dọc ngó ngang, tìm một chỗ tránh không bị xéo phải. Cỏ Ba
Lá khoanh đôi chân trước to cộ thành bức tường bao lấy
chúng, lũ vịt liền rúc vào nhau ở bên trong rồi lập tức ngủ
thiếp. Mãi sau cùng mới thấy Mollie, ả ngựa bạch xinh xắn
ngốc nghếch vẫn kéo xe ngựa cho ông Jones õng ẹo đi vào,
vừa đi vừa nhai một viên đường. Nó chọn chỗ ngay phía trước
rồi cứ lúc lắc bộ bờm trắng, cốt làm xung quanh để ý đến mấy
dải nơ đỏ tết trên bờm. Sau rốt đến con mèo, như thường lệ, nó
nhìn quanh kiếm chỗ nào ấm nhất, rồi lách vào giữa Đấu Sĩ và
Cỏ Ba Lá, và ngồi đó rừ rừ mãn nguyện suốt cả bài phát biểu
của Ông Cả mà chẳng để vào đầu chữ nào.
Giờ thì súc vật cả trại đã có mặt đủ, chỉ trừ Tiên Tri, con
quạ nhà, đang ngủ trên cây sào sau cửa hậu. Khi Ông Cả thấy
mọi con đều đã ngồi ấm chỗ và chăm chú chờ đợi, nó hắng
giọng và bắt đầu:
“Hỡi các đồng chí! Các đồng chí đều đã nghe tới giấc mơ
kỳ lạ của tôi đêm qua. Nhưng chuyện giấc mơ tôi sẽ nói sau.
Có một điều khác tôi cần nói trước. Thưa các đồng chí, tôi
không nghĩ mình còn ở lại với các đồng chí được nhiều tháng
nữa, thế nhưng trước khi chết tôi thấy mình có bổn phận phải
truyền đạt lại những điều tôi đã chiêm nghiệm bấy lâu. Tôi đã
sống khá lâu rồi, đã có nhiều thời gian nằm một mình trong
chuồng mà suy ngẫm, và tôi dám nói mình thấu hiểu bản chất
cuộc sống trên trái đất này hơn bất cứ con vật nào hiện đang
còn sống. Đấy chính là điều tôi muốn nói với các đồng chí
hôm nay.
“Giờ các đồng chí hãy nghĩ thử xem, bản chất cuộc sống
của chúng ta đây là như thế nào? Chúng ta cứ nhìn thằng vào
sự thực: đời chúng ta vừa khổ sở, vừa nặng nhọc, lại ngắn
ngủi. Chúng ta được sinh ra, chúng ta được nuôi ăn vừa đủ
cầm hơi mà sống, ai có khả năng thì bị buộc làm việc cho đến
khi sức cùng lực kiệt, và ngay khi không còn hữu ích nữa là ta
sẽ bị xẻ thịt một cách dã man không thương xót. Khắp nước
Anh không con vật nào quá một tuổi mà còn biết thế nào là
sung sướng hay nhàn nhã. Khắp nước Anh không con vật nào
được tự do. Đời con vật là đời khổ cực, nô lệ: sự thực rành
rành là thế.
“Nhưng có phải đấy là quy luật tự nhiên sẵn có hay không?
Có phải mảnh đất dưới chân ta đây cằn cỗi đến nỗi không
cung cấp được một cuộc sống đủ đầy cho những ai sống trên
đó? Không đâu, các đồng chí ạ, một ngàn lần không! Đất đai
nước Anh màu mỡ, khí hậu nước Anh thuận hòa, thừa đủ cung
cấp thức ăn dồi dào cho một lượng súc vật lớn hơn nhiều hiện
tại. Chỉ riêng trang trại chúng ta cũng đủ nuôi sống một tá
ngựa, hai chục bò, hàng trăm cừu - mà đấy là sống với tiện
nghi và phẩm giá vượt xa những gì ta có thể hình dung được.
Vậy thì tại sao, tại sao chúng ta cứ sống mãi trong cảnh lầm
than này? Đấy là vì gần như toàn bộ sản phẩm sinh ra từ lao
động của ta đều bị con người cướp mất. Chính đấy, hỡi các
đồng chí, là lời giải đáp cho mọi vấn đề của chúng ta. Tất cả
chỉ tóm gọn trong một chữ: Người. Người là kẻ thù thực sự
duy nhất của chúng ta. Chỉ cần loại bỏ Người, thì sẽ nhổ
phăng vĩnh viễn được gốc rễ của đói kém và lao lực quá độ.
“Người là sinh vật duy nhất chỉ tiêu thụ chứ không sản
xuất. Hắn ta không cho sữa, hắn ta không đẻ trứng, hắn ta yếu
sức không kéo nổi cày, hắn ta chạy chậm không bắt nổi thỏ.
Thế mà hắn ta lại là chúa tể của mọi loài vật. Hắn bắt chúng ta
làm việc, rồi thí cho phần tối thiểu để ta không chết đói, còn
thì hắn ta giữ tất cho mình. Chính nhờ sức chúng ta mà đồng
ruộng được cày, nhờ phân chúng ta mà đất thêm màu mỡ,
nhưng trong chúng ta có ai sở hữu được gì hơn bộ da bọc
xương? Các chị bò trước mặt tôi đây, năm vừa qua các chị đã
cho bao nhiêu nghìn ga lông sữa? Sữa ấy đáng ra phải dành để
nuôi lớn những chú bê lực lưỡng, giờ đã đi đâu cả rồi? Thì
từng giọt đã đổ vào họng kẻ thù của chúng ta. Còn các chị gà
mái, riêng năm qua các chị đã đẻ bao nhiêu quả trứng, vào bao
nhiêu trọng ấy được nở thành những chú gà con? Tất cả số còn
lại đã đi ra chợ để túi tiền của Jones và đám người làm thêm
nặng. Chị nữa, chị Cỏ Ba Lá, bốn cô cậu ngựa chị đã sinh ra,
đáng lẽ phải là niềm vui và chỗ tựa nương khi chị tuổi cao sức
yếu, giờ đâu hết rồi? Chúng nó vừa lên một là bị bán - chị
chẳng bao giờ còn đươc gặp đứa nào nữa. Đổi lại bốn lần nằm
bếp cùng cả đời cật lực trên đồng ruộng - chị được gì ngoài
bữa ăn mạt hạng với bốn vách chuồng?
“Đã khổ cực như thế mà chúng ta cũng không được quyền
sống hết tuổi thọ trời cho nữa. Tôi thì không có gì phàn nàn
cho bản thân, tôi thuộc vào số may mắn. Tôi đã sống đến mười
hai tuổi và đã có hơn bốn trăm đứa con. Cuộc sống tự nhiên
của loài lợn là thế. Nhưng rốt cuộc chẳng con vật nào thoát
khỏi lưỡi dao ác nghiệt. Mấy chú lợn thịt ngồi trước mặt tôi
đây, chỉ trong một năm nữa từng chú một rồi sẽ gào thét mà
trút hơi thở cuối cùng trên mặt thớt. Cái kết cuộc kinh hoàng
ấy đợi sẵn từng kẻ trong chúng ta: bò hay lợn, gà hay cừu,
không chừa ai hết. Cả ngựa với chó cũng đừng mong thoát
được. Anh Đấu Sĩ, cái ngày những bắp thịt vạm vỡ kia xọp đi
cũng là ngày Jones bán anh cho tay hàng thịt ngựa, kẻ sẽ cắt
cổ anh rồi luộc chín, ném cho lũ chó săn cáo. Còn mấy chị chó
kia, khi nào các chị thân già răng rụng, Jones sẽ buộc gạch vào
cổ các chị mà đem dìm xuống cái ao hắn gặp đầu tiên.
“Vậy chẳng phải rõ như ban ngày, hỡi các đồng chí, rằng
tất cả những điều tàn ác đổ xuống đời chúng ta đây đều do ách
chuyên chế của con người mà ra? Chỉ cần loại bỏ Người là
mọi sản phẩm từ lao động của ta đều sẽ thuộc về ta. Gần như
tức thì ta sẽ được tự do và giàu có. Như vậy hỏi ta phải làm gì?
Tất nhiên là phải phấn đấu ngày đêm, cống hiến trọn tinh thần
và sức lực để mà lật đổ loài người! Thông điệp của tôi cho các
đồng chí chỉ có một lời đó thôi: Khởi nghĩa! Tôi không biết
khi nào thì Khởi nghĩa sẽ nổ ra, có thể tuần sau mà cũng có thể
một trăm năm nữa, nhưng tôi biết, rành rành như tôi biết có ổ
rơm dưới chân mình đây, rằng sớm hay muộn công lý cũng sẽ
được thực thi. Hãy kiên định mục đích ấy, hỡi các đồng chí,
trong suốt quãng đời ngắn ngủi còn lại của mình! Và trên hết,
hãy truyền lại thông điệp của tôi cho lớp hậu sinh, để các thế
hệ về sau tiếp tục đấu tranh cho đến ngày thắng lợi.
“Và xin nhớ cho, các đồng chí ạ, phải cương quyết đừng
bao giờ lao động. Đừng để luận điệu xuyên tạc đánh lạc
hướng. Đừng nghe kẻ nào rao giảng rằng Người và súc vật có
chung quyền lợi, rằng thịnh vượng của bên này cũng là phát
đạt của bên kia. Chỉ rặt là dối trá thôi. Con người không vì
quyền lợi của bất kỳ sinh vật nào khác ngoài chính bản thân
hắn. Còn giữa loài vật chúng ta với nhau, cần phải tuyệt đối
đoàn kết, tuyệt đối đồng tâm đồng chí đấu tranh. Mọi con
người đều là kẻ thù. Mọi con vật đều là đồng chí.”
Đúng lúc ấy xảy ra náo loạn ầm ĩ. Trong lúc Ông Cả phát
biểu có bốn con chuột lớn bò ra trong hang chuột và ngồi xổm
lắng nghe. Bầy chó bất chợt nhìn thấy, và may nhờ trong tích
tắc vẫn kịp chui tọt vào hang mà bầy chuột mới toàn mạng.
Ông Cả giơ móng lên đề nghị trật tự.
“Các đồng chí,” nó nói, “có một điểm ta cần thống nhất
ngay bây giờ. Các động vật hoang như chuột hay thỏ, họ là
bạn hay là kẻ thù của chúng ta? Chúng ta hãy đưa ra bỏ phiếu.
Tôi xin đặt câu hỏi với hội nghị: Chuột có phải là đồng chí
không?”
Cuộc bỏ phiếu nhoáng cái đã xong, đa số áp đảo công nhận
chuột cũng là đồng chí. Phiếu chống thì có bốn, ba con chó và
con mèo, mà như sau này thì phát hiện, mèo ta đã bỏ cả hai
đằng. Ông Cả tiếp tục:
“Tôi không cần nhiều lời nữa. Tôi chỉ muốn nhắc lại, luôn
luôn các đồng chí phải nhớ bổn phận là căm thù Người cùng
những thói tục của Người. Bất cứ thứ gì đi hai chân đều là kẻ
thù. Bất cứ thứ gì đi bốn chân hay có cánh đều là bằng hữu.
Và phải nhớ thêm rằng, đã chiến đấu chống lại Người, chúng
ta không được thay đổi thành ra giống như chúng. Kể cả sau
này khuất phục được chúng rồi, các đồng chí cũng không được
tiêm nhiễm các thói hư tật xấu của chúng. Không con vật nào
được phép sống trong nhà, hoặc ngủ trên giường, hoặc mặc
quần áo, hoặc uống bia rượu, hoặc hút thuốc lá, hoặc dùng đến
tiền, hoặc trao đổi buôn bán. Mọi thói quen của Người đều
xấu. Và trên hết, không con vật nào được phép áp chế giống
loài mình. Yếu hay khỏe, khôn ngoan hay chất phác, chúng ta
cũng là anh em. Không con vật nào được giết hại một con vật
khác. Mọi con vật đều bình đẳng.
“Giờ thì, các đồng chí ạ, tôi sẽ kể lại giấc mơ đêm qua. Tôi
không đủ lời lẽ mà mô tả lại giấc mơ ấy cho các đồng chí. Đấy
là giấc mơ về mặt đất này một mai khi Người đã hoàn toàn
vắng bóng. Nhưng nó lại khiến tôi nhớ lại một điều tôi đã quên
từ lâu lắm. Rất nhiều năm trước, khi tôi còn là một chú lợn
con, mẹ tôi cùng các bà lợn nái vẫn thường hát một bài hát cổ
mà họ chỉ nhớ giai điệu cùng bốn chữ đầu. Từ tấm bé tôi đã
thuộc giai điệu ấy nhưng đã quên bẵng từ lâu rồi. Song đêm
qua trong giấc mơ, giai điệu kia đã trở về với tôi. Không chỉ
thế mà cả lời ca cũng trở lại - tôi tin chắc đấy là những lời giới
súc vật xưa kia đã hát, những lời đã phai khỏi trí nhớ nhiều thế
hệ nay. Tôi sẽ hát bài đó cho các đồng chí nghe. Tôi đã già rồi,
giọng cũng đã khản, nhưng được tôi dạy giai điệu rồi thì các
đồng chí có thể tự hát hay hơn. Bài hát tên là Súc vật Anh
quốc.
Ông Cả húng hắng giọng rồi cất tiếng hát. Đúng là giọng nó
hơi khản như đã nói, nhưng nó vẫn hát rất khỏe, và giai điệu
bài hát khá náo nức, lai giữa điệu Song thất và Lục bát. Lời bài
hát như thế này:
Súc vật Ai Len và Anh quốc
Ở đất này hay thuộc nơi đâu
Nghe tin báo trước từ lâu
Về tương lai đó một màu sáng tươi
Sớm muộn gì ngày vui cũng đến
Lũ người kia sẽ xuống bùn đen
Đồi xanh cho chí ruộng vườn
Để riêng súc vật an nhàn dạo chơi.
Mũi ta thôi bị cùm đồng siết
Vai ta đâu còn ách cày bừa
Roi đòn dừng quất sớm trưa
Hàm thiếc đinh sắt cũng vừa gỉ han
Tới ngày đó giàu sang khó tả
Biết bao nhiêu của nả, cửa nhà
Lúa, ngô, khoai, sắn, đậu, cà
Của mình cả đấy ai mà dám tranh.
Đồng ruộng sẽ bừng lên xán lạn
Nước trong nguồn hết cạn lại đầy
Gió trời vi vút thế này
Là mừng súc vật đến ngày tự do
Vì ngày đó chúng ta chung sức
Dẫu thân này chết trước bình minh
Ngựa bò gà ngỗng súc sinh
Nhất tề tranh đấu mà giành tự do.
Súc vật Ai Len và Anh quốc
Ở đất này hay thuộc nơi đâu
Nghe tin thời báo cho mau
Kìa tương lai đó một màu sáng tươi.
Bài hát khiến đám thú vật phấn khích vô kể. Ông Cả còn
chưa hát hết bài, chúng đã bắt chước hát theo. Cả những con
vật trì độn nhất cũng đã nhớ được giai điệu cùng vài chữ lõm
bõm, còn những con thông minh như lợn hay chó thì chỉ vài
phút là thuộc lòng cả bài. Rồi sau vài lần dượt thử, cả trại hát
vang Súc vật Anh quốc thành một dàn đồng ca rộn rã. Đàn bò
rống lên, lũ chó tru lên, đám cừu be lên, tốp ngựa hí lên, bầy
vịt quạc lên. Chúng hào hứng với bài ca đến nỗi hát liền một
mạch năm lần không nghỉ, và chắc sẽ còn hát đến sáng nếu
không bị ngăn cản giữa chừng.
Không may là tiếng ồn ào đã đánh thức ông Jones, ông ta
lập tức bật dậy khỏi giường, tin chắc là có cáo vào trong sân.
Tóm vội cây súng vẫn dựng góc phòng ngủ, ông ta bắn một
tràng đạn số 6 vào bóng tối. Loạt đạn găm vào tường nhà kho,
cuộc hội họp cuống cuồng giải tán. Con nào con ấy chạy về
chỗ ngủ của mình. Bầy chim bay lên sào, đám thú nằm xuống
rơm, và trong chốc lát cả trại đã thiếp ngủ.
Chương II
Ba đêm sau, Ông Cả qua đời trong giấc ngủ bình yên. Xác
nó được chôn ở cuối vườn quả.
Lúc đó là đầu tháng Ba. Suốt ba tháng kế, cả trại dồn dập
những hoạt động bí mật. Bài diễn thuyết của Ông Cả đã mở
mắt cho những con vật thông minh nhất, đem lại một quan
niệm sống hoàn toàn mới. Chúng không biết cuộc Khởi nghĩa
Ông Cả tiên đoán bao giờ thì nổ ra, cũng chẳng có cớ gì mà
đoán sẽ nổ ra ngay trong thời của mình, nhưng chúng hiểu rõ
bổn phận của mình là dọn đường cho Khởi nghĩa. Nhiệm vụ
dạy bảo tổ chức số còn lại nghiễm nhiên rơi vào tay đám lợn,
những con vẫn được thừa nhận là thông minh nhất trong các
loài. Nổi trội hơn cả là hai lợn giống trẻ, Tuyết Cầu và Nã Phá
Luân, đều đang được ông Jones chăm bẵm chờ đẩy đi. Nã Phá
Luân thuộc giống Berkshire, trại chỉ có một con Berkshire ấy,
thân đen to lớn trông khá dữ tính ít xởi lởi nhưng có tiếng là
muốn gì thì làm cho bằng được. Tuyết Cầu là con lợn sôi nổi
hơn Nã Phá Luân, nói năng hoạt bát mà lại nhiều sáng kiến
hơn, nhưng được nhận định là tính cách không sâu sắc bằng.
Còn lại các lợn đực trong trại đều là lợn thịt. Có tiếng nhất là
một con lợn nhỏ tròn trùng trục tên là Mồm Loa, má phúng
phính, mắt hấp háy, đi lại nhanh nhẹn, giọng the thé như còi.
Nó là một tay nói năng dẻo quẹo, cứ mỗi lần tranh luận đến
chỗ hóc búa lại có cái kiểu loi choi nhảy từ chân này sang
chân kia, cái đuôi phất phất, chẳng hiểu sao vẻ ấy lại dễ thu
phục người khác. Xung quanh bảo Mồm Loa có thể nói đen
thành ra trắng được.
Bộ ba này đã phát triển lời dạy của Ông Cả thành hẳn một
hệ tư tưởng hoàn chỉnh, mà chúng đặt tên là Súc vật Chủ
nghĩa. Mỗi tuần vài tối, sau khi ông Jones đã ngủ, cả ba triệu
họp kín trong nhà kho lớn, thuyết giải các nguyên lý Súc vật
Chủ nghĩa cho cả trại. Ban đầu chúng chỉ gặp phải thái độ ngu
ngốc và dửng dưng. Vài con vật dẫn ra bổn phận phải trung
thành với ông Jones, mà chúng gọi là “Ông Chủ”, hay phát
biểu ngù ngờ kiểu như “Nhưng ông Jones nuôi chúng ta ăn
mà. Ông ấy mà đi thì chúng ta đến chết đói mất thôi.” Những
con khác thì hỏi đại loại “Việc gì phải quan tâm những chuyện
sau khi ta chết rồi?” hay là “Nếu cái Khởi nghĩa này đằng nào
cũng đến thì chúng ta có phấn đấu vì nó hay không cũng đâu
khác gì?” khiến đám lợn khó khăn lắm mới giảng được cho
chúng hiểu ra, tư duy thế là trái với tinh thần Súc vật Chủ
nghĩa. Trùm ngu ngốc là câu hỏi của Mollie, ả ngựa bạch. Câu
đầu tiên nó thốt ra với Tuyết Cầu là: “Khởi nghĩa xong í, có
còn đường nữa hông?”
“Không,” Tuyết Cầu đáp chắc nịch. “Trong trại chúng ta
không có phương tiện sản xuất đường. Hơn nữa tại sao phải
cần đường? Ai cũng sẽ được ăn yến mạch cỏ khô thỏa thích.”
“Thế tui có được tết nơ trên bờm hông?” Mollie hỏi tiếp.
“Đồng chí Mollie,” Tuyết Cầu đáp, “mấy cái nơ đồng chí
mê thích ấy đều là xiềng xích tôi đòi. Đồng chí không thấy là
tự do còn đáng giá hơn nơ với nút ư?”
Mollie đồng ý, nhưng cô ả có vẻ không tin tưởng lắm.
Đàn lợn còn phải đấu tranh vất vả hơn nữa để dập tắt những
lời dối trá mà Tiên Tri, con quạ nhà, gieo rắc. Là vật cưng của
chủ trại Jones, Tiên Tri không những giỏi do thám và đưa
chuyện, mà còn tài nói như rót vào tai. Nó kể xằng về một cõi
huyền bí tên là Đỉnh Kẹo Bông, nơi mọi con vật chết rồi đều
đến đó. Nơi này ở đâu đó trên trời, ngay trên mấy tầng mây,
Tiên Tri kể. Trên Đỉnh Kẹo Bông một tuần có bảy Chủ nhật,
quanh năm cỏ ba lá xanh mướt, đường viên với bánh hạt lanh
mọc ngay bờ giậu. Lũ súc vật đều ghét Tiên Tri vì nó chỉ tán
láo cả ngày, không chịu làm việc, nhưng có vài con lại tin
chuyện Đỉnh Kẹo Bông, khiến đám lợn phải khô cổ nói lý cho
chúng hiểu không có chốn như thế.
Học trò trung thành nhất của chúng là cặp ngựa kéo xe thồ,
Đấu Sĩ và Cỏ Ba Lá. Cả hai nếu cần tự suy nghĩ cho ra vấn đề
thì rất ù lì, nhưng một khi đã coi lợn là thầy thì chúng nghe gì
cũng như nuốt lấy, rồi bằng những lý lẽ đơn giản truyền lại
cho những con khác. Không một buổi họp kín nào trong kho
vắng mặt đôi ngựa, chúng luôn bắt nhịp bài Súc vật Anh quốc
mà buổi nào cũng hát bế mạc.
Sự thể hóa ra là Khởi nghĩa thắng lợi sớm hơn và dễ dàng
hơn bất kỳ kẻ nào từng hình dung. Những năm trước, dù có
phũ tay cai quản, ông Jones vẫn là một nhà nông cừ, nhưng
gần đây ông ta đã đến hồi mạt vận. Từ độ kiện cáo mất tiền
ông ta suy sút tinh thần hẳn, lại còn quay sang rượu chè quá
độ. Có khi cả mấy ngày liền, ông ta ườn người trên cái ghế
dựa tay tròn trong bếp, mắt đọc báo mồm nốc bia, thỉnh
thoảng nhúng vỏ bánh vào bia ném cho Tiên Tri. Kẻ ăn người
làm đâm ra lười biếng, dối trá, ruộng đồng toàn cỏ, chuồng trại
tốc mái chả ai thay, hàng giậu xơ xác chả ai chăm, lũ súc vật
ngày nào cũng hóp bụng.
Tháng Sáu tới, cỏ khô sắp đến lúc cắt. Đêm trước ngày
Trung Hạ rơi vào thứ Bảy, ông Jones vào làng Willingdon,
uống say mèm ở quán Sư Tử Đỏ đến tận trưa Chủ nhật mới
mò về trại. Từ sáng sớm, người làm đã vắt sữa bò rồi bỏ đi săn
thỏ, chẳng thèm cho gia súc ăn. Ông Jones về đến nhà lập tức
lăn ra ngủ trên sô pha phòng khách, tờ News of the World đậy
trên mặt, cho nên đến tối mịt lũ súc vật đói vẫn hoàn đói. Cuối
cùng chúng không nhịn nổi nữa. Một con bò sữa lùa sừng húc
tung cửa kho ngũ cốc, lũ súc vật sục vào các đấu ăn thỏa thuê.
Đúng lúc đó ông Jones tỉnh dậy. Trong nháy mắt, ông ta cùng
bốn người làm đã vào đến kho, roi da lăm lăm. Quật tới tấp tứ
phía. Lũ súc vật đói ăn đã đến hồi hết chịu nổi. Nhất tề như
một, dù chẳng hề bàn tính trước, tất cả lăn xả vào mấy kẻ bạo
ngược. Jones với người làm bỗng thấy sừng húc vó nện bốn
phía xông tới. Sự tình đã vượt khỏi tầm kiểm soát của họ. Họ
chưa thấy gia súc xử sự như thế này bao giờ, và cảnh tượng
những sinh vật ngày thường vẫn đánh đập hành hạ mặc tình
bỗng dưng vùng dậy khiến họ sợ muốn bở vía. Cố gắng chống
trả thêm được một chốc, cả bọn co cẳng tháo lui. Một phút
sau, cả năm người đã vắt chân lên cổ mà chạy dọc đường mòn
dẫn xuống đường cái, lũ gia súc đại thắng đuổi dài đằng sau.
Bà Jones từ cửa phòng ngủ ngó ra, thấy cảnh tượng đó vội
tống ít đồ đạc vào cái túi thổ cẩm rồi theo đường khác lẻn ra
khỏi trang trại. Tiên Tri nhảy khỏi sào đập cánh bay theo bà,
miệng kêu quàng quạc. Trong lúc đó lũ gia súc đã đuổi Jones
cùng người làm ra tận đường cái, rồi đẩy sầm cái cổng gỗ
gióng ngang chặn đằng sau bọn họ. Vậy là, dù chúng chưa thật
hiểu chuyện gì vừa xảy ra, Khởi nghĩa đã kết thúc thắng lợi:
Jones đã bị trục xuất, còn Trại Nông Trang đã về tay chúng.
Mấy phút đầu, lũ súc vật như còn chưa tin vào vận may của
mình. Việc đầu tiên là chúng họp nhau chạy tế một vòng khắp
các ngóc ngách trang trại như để xem có con người nào còn ẩn
núp ở góc nào không, rồi chúng lại phi về khu chuồng trại,
quyết tâm quét sạch mọi vết tích đáng ghét còn lại thời Jones
cai trị. Buồng treo yên cương cuối tàu ngựa bị phá toang,
những hàm thiếc, khoen mũi, xích chó, những lưỡi dao nghiệt
ngã ông Jones vẫn dùng thiến cừu hoạn lợn bị quẳng ráo
xuống giếng.
Dây cương, đai mũi, miếng che mắt cùng bao mõm thức ăn
tủi nhục, đều được ném cả vào đống lửa đốt rác trong sân. Roi
da cùng chung số phận. Mọi con vật đều nhảy cẫng reo hò khi
thấy đống roi da bắt lửa đùng đùng. Tuyết Cầu còn quăng vào
lửa cả mấy cái nơ vẫn thắt vào bờm và đuôi ngựa mỗi dịp chợ
phiên.
“Nơ cũng phải coi là quần áo,” nó nói, “tức cũng là dấu
hiệu của con người. Tất cả súc vật đều phải trần chuồng.”
Nghe thấy thế, Đấu Sĩ liền ngoạm cái nón rơm nhỏ vẫn đội
vào mùa hè để ruồi khỏi vào tai, rồi hất luôn vào lửa cùng mấy
thứ còn lại.
Chẳng mấy chốc lũ gia súc đã tiêu hủy hết mọi thứ nhắc
nhở chúng nhớ lại thời của Jones. Nã Phá Luân dẫn tất cả về
lại kho ngũ cốc, chia cho mỗi con khẩu phần lúa mì gấp đôi
thường ngày, chó thì mỗi con được hai chiếc bánh quy. Tiếp đó
chúng đồng ca liên tiếp bảy lượt Súc vật Anh quốc từ đầu đến
cuối, rồi chúng về chuồng, ngủ một giấc ngon lành chưa từng
có từ trước đến nay.
Nhưng chúng vẫn dậy đúng bình minh như thường lệ, và
sực nhớ ra chiến thắng huy hoàng vừa hôm trước, tất cả theo
nhau đổ ra bãi chăn.
Vào sâu trong bãi một chút có một gò đất, từ đó có thể bao
quát gần hết trang trại. Lũ gia súc chạy ùa lên đỉnh gò, đưa
mắt nhìn quanh dưới ánh ban mai trong trẻo. Phải, tất cả là của
chúng - mọi thứ hiện ra trước mắt đều là của chúng! Ý nghĩ ấy
khiến chúng say lòng, chúng nhảy cỡn khắp nơi, chúng bật
tung lên không từng bước dài khoái trí. Chúng nằm lăn giữa
sương mai, chúng ngoạm đầy miệng cỏ mùa hè ngọt lịm,
chúng đá vung từng nắm đất đen, hít căng hơi đất nồng nàn.
Rồi chúng đi một vòng xem xét khắp trang trại, đến mỗi nơi
lại lặng người thán phục, từ chân ruộng mì, đồng cỏ khô, đến
vườn quả, hồ nước ăn, khóm rừng nhỏ. Cứ như thể lần đầu
chúng nhìn thấy những thứ ấy, thậm chí ngay lúc này chúng
vẫn chưa tin được là tất cả đã về tay mình.
Rồi chúng nối đuôi nhau quay lại khu chuồng trại, đứng im
lặng ngoài cửa ngôi nhà chủ. Cả nhà này cũng đã về tay
chúng, nhưng chúng sợ không dám vào. Song le chỉ lát sau,
Tuyết Cầu và Nã Phá Luân đã huých bật cửa cho lũ súc vật
xếp hàng một đi vào, bước từng bước thận trọng để khỏi xô
động thứ gì. Chúng rón rén từ phòng này sang phòng kia, khẽ
khàng không dám nói to, và trố mắt nhìn cảnh sống xa hoa
không tin nổi, nào giường nệm lông, nào gương soi, nào sô
pha nhồi lông ngựa, nào thảm len dệt nổi, nào tranh thạch bản
Nữ hoàng Victoria treo trên bệ lò sưởi phòng khách. Tất cả
còn đang xuống cầu thang thì phát hiện không thấy Mollie
đâu. Quay ngược lên, các con khác thấy nó còn ở trong phòng
ngủ chính. Nó vừa thấy được cái nơ xanh lơ trên bàn trang
điểm của bà chủ, còn đang ướm thử trên vai và ngắm nghía
mình trong gương, trông rất ngớ ngẩn. Những con khác
nghiêm khắc quở mắng nó, rồi tất cả ra khỏi nhà. Mấy tảng
thịt muối treo trong bếp được đem ra chôn cất, thùng bia trong
bếp phụ bị Đấu Sĩ đá một cú bẹp rúm, nhưng ngoài ra chúng
không đụng đến thứ gì khác trong nhà. Tất cả đồng tình ra
quyết nghị tại chỗ, bảo tồn ngôi nhà chủ làm nhà lưu niệm. Ai
nấy đều nhất trí rằng không con vật nào được đến sống trong
nhà.
Lũ súc vật ăn sáng xong, Tuyết Cầu và Nã Phá Luân lại
triệu tập cả trại.
“Các đồng chí,” Tuyết Cầu nói, “giờ đã sáu rưỡi rồi mà
chúng ta còn một ngày dài trước mắt. Hôm nay ta sẽ bắt đầu
thu hoạch cỏ khô. Nhưng trước hết còn một vấn đề này nữa.”
Bấy giờ đàn lợn mới tiết lộ rằng ba tháng qua chúng đã tự
học mà biết đọc biết viết, nhờ cuốn học vần cũ của con cái ông
Jones bị quẳng ra đống rác. Nã Phá Luân cho tìm mấy lọ sơn
đen trắng, tiếp đó dẫn đường cả bọn xuống cánh đồng gỗ
gióng ngang mở ra đường cái. Rồi Tuyết Cầu (là kẻ viết giỏi
nhất bọn) cặp chổi sơn giữa hai móng, xóa bỏ chữ TRẠI
NÔNG TRANG trên thanh ngang trên cùng mà viết thay vào
đó TRẠI SÚC VẬT. Đấy sẽ là tên trại từ giờ trở đi. Sau đó tất
cả quay lại khu chuồng trại, Tuyết Cầu và Nã Phá Luân lại cho
lấy cái thang, sai đặt dựa vào vách tường cuối nhà kho lớn.
Chúng giải thích tiếp, sau ba tháng tìm tòi, đàn lợn đã rút gọn
thành công các nguyên tắc Súc vật Chủ nghĩa thành chỉ còn
bảy điều răn. Bây giờ bảy điều răn ấy sẽ được viết lên tường,
trở thành bộ luật bất di bất dịch, súc vật trong Trại Súc Vật sẽ
theo đó mà sống vĩnh viễn về sau. Hơi chật vật (vì lợn đứng
thăng bằng trên thang không phải dễ) Tuyết Cầu trèo lên bắt
tay vào việc, Mồm Loa đứng dưới vài bậc giơ lọ sơn. Các điều
răn được viết chữ trắng lớn trên tường quét nhựa đường đen,
cách ba mươi thước vẫn đọc rõ. Tất cả là thế này:
BẢY ĐIỀU RĂN
1. Bất cứ thứ gì đi hai chân đều là kẻ thù.
2. Bất cứ thứ gì đi bốn chân, hay có cánh, đều là bằng hữu.
3. Không con vật nào được mặc quần áo.
4. Không con vật nào được ngủ trên giường.
5. Không con vật nào được uống bia rượu.
6. Không con vật nào được giết con vật khác.
7. Mọi con vật đều bình đẳng.
Chữ viết rất ngay ngắn, và ngoài “bằng hữu” bị viết thành
“bằng hĩu” và một chữ “Đ” viết ngược thì từ nào cũng đúng
chính tả. Tuyết Cầu đọc to một lượt cho tất cả cùng nghe. Mọi
con vật đều gật gù tán đồng hết thảy, những con sáng dạ lập
tức nhẩm thuộc lòng các điều răn.
“Bây giờ, hỡi các đồng chí,” Tuyết Cầu ném chổi sơn kêu
lớn, “ra đồng thôi! Chúng ta hãy thi đua lập thành tích thu
hoạch chóng hơn của Jones cùng đám người làm của hắn.”
Nhưng đúng lúc đó, ba chị bò cái vốn đã nhấp nhổm từ nãy
giờ bật rống mấy tiếng lớn. Chúng chưa được vắt sữa cả hai
mươi tư giờ rồi, mấy bầu vú căng muốn nứt. Nghĩ ngợi một
lúc, đàn lợn cho mang xô đến rồi bắt tay vắt sữa khá thành
công, móng lợn hóa ra rất hợp việc này. Một lúc sau đã có năm
xô sữa béo ngậy sủi bọt, nhiều con vật đưa mắt nhìn khá hứng
thú.
“Bao nhiêu sữa thế này sẽ để làm gì?” ai đó hỏi.
“Thỉnh thoảng Jones lấy trộn vào cám cho chúng tôi đấy,”
một gà mái cho biết.
“Bận tâm đến sữa làm gì, các đồng chí!” Nã Phá Luân đứng
chắn trước dãy xô kêu lớn. “Cái đó sẽ có người lo. Vụ thu
hoạch quan trọng hơn nhiều. Đồng chí Tuyết Cầu sẽ dẫn
đường. Tôi đợi vài phút sẽ theo ngay. Tiến lên, các đồng chí!
Đồng cỏ đang chờ.”
Vậy là lũ súc vật tiến quân ra đồng cắt cỏ, và đến tối khi
chúng trở về, thì chẳng thấy sữa đâu nữa.
Chương III
Lôi được cỏ vào, chúng đổ mồ hôi sôi nước mắt biết bao!
Nhưng công khó cũng ra thành quả, vụ thu hoạch còn thành
công hơn cả mong chờ.
Làm việc có nhiều lúc thật khó: công cụ thiết kế là cho
người dùng chứ không phải súc vật, đã thế chẳng con vật nào
dùng được những món phải đứng trên chân sau nên càng bất
lợi. Nhưng đàn lợn khôn ngoan nghĩ ra được cách khắc phục
mọi khó khăn. Lại thêm đôi ngựa hiểu rõ cánh đồng đến từng
tấc, thực tế là chúng nắm chắc việc cắt cỏ đánh đống hơn
nhiều so với Jones cùng đám người làm. Đàn lợn không trực
tiếp mó tay, chỉ giám sát chỉ đạo số còn lại...
Giới thiệu
Chương I
Chương II
Chương III
Chương IV
Chương V
Chương VI
Chương VII
Chương VIII
Chương IX
Chương X
Giới thiệu
Câu chuyện bắt đầu ở Điền Trang của ông Jones. Vào một
đêm trường sau khi ông chủ Jones đã ngủ mê mệt vì say rượu,
các thú vật của Nông Trại Manor tụ họp trong nhà chứa cỏ để
nghe con heo già Old Major kể về một giấc mộng kỳ lạ. Khởi
đầu, bằng một giọng nói rõ ràng và đầy sức mạnh, Heo già
Major kể lại sự hiểu biết của mình về bản chất của cuộc đời.
Theo đó, các con vật được sinh ra phải làm việc cực nhọc, chịu
đựng gian khổ, không được ăn no, tới khi không còn sức lao
động nữa thì bị làm thịt. Chúng bị làm nô lệ cho loài người và
đây là giới sinh vật chỉ tiêu thụ mà không sản xuất. Vì vậy chỉ
còn một giải pháp: phải lật đổ loài người. Mọi con vật phải
đoàn kết lại vì một mục đích chung: nổi dậy.
Buổi họp bị gián đoạn một thời gian ngắn vì vài con chó
chạy đi đuổi chuột, tiếp theo Heo già Major đề nghị bỏ phiếu
quyết định loài chuột là đồng chí (comrades), kế tiếp mọi con
vật đều tán thành một quyết định khác của Heo già Major như
sau: Con người là Kẻ Thù. Các con vật vì vậy cần phải tránh
xa các thói quen của con người: không xài nhà ở, giường nằm,
quần áo, tiền bạc, mậu dịch, rượu. Và trên hết, Tất cả chúng ta
đều là Bạn. Không con vật nào được giết một con vật khác.
Mọi con vật đều bình đẳng. Heo già Major đã không thể mô tả
hết giấc mộng tốt đẹp của nó cho các con vật khác nghe và nó
cũng dạy cho các con vật kia hát bài ca Các thú vật của nước
Anh mà nó học được trong giấc mộng. Nhờ hát đi hát lại bài
ca cách mạng này, các con vật đều trở nên cuồng nhiệt.
Không lâu sau đó, Heo già Major qua đời nhưng các con
vật còn sống khác đều cần phải hiểu rõ nền Triết học Súc vật
chủ nghĩa (Animalism), đều phải nổi dậy chống lại ông chủ
Jones. Công tác giảng dạy và tổ chức quần chúng được giao
phó cho các con heo bởi vì loài heo được coi là những con vật
tinh khôn, khéo léo. Trong số các con vật này, có hai con tài
giỏi nhất là Heo Snowball và Heo Napoleon. Ngoài ra còn có
Heo Squealer, một kẻ ăn nói xuất sắc. Ngày tháng trôi dần
qua, ông chủ trại Jones càng uống nhiều rượu mạnh và càng
trễ nải việc chăm sóc nông trại. Rồi vào một buổi chiều kia,
khi ông Jones quên cho súc vật ăn uống sau một ngày dài, các
con vật phá cửa, xông vào máng ăn và giành ăn uống. Ông
Jones và các người làm công bèn dùng roi, gậy, đánh đập các
con vật. Các con vật đói ăn này không thể chịu đựng hơn được
nữa. Chúng bèn tấn công các kẻ đàn áp. Vừa ngạc nhiên, vừa
hoảng sợ, cả chủ lẫn tớ đều bị đuổi khỏi nông trại.
Thật là bất ngờ. Cuộc nổi dậy đã thành công. Ông chủ
Jones không còn nữa, Nông trại Manor từ nay thuộc về các súc
vật. Niềm vui của tất cả súc vật thật là vô kể, chúng là chủ
nhân và sẽ làm việc hòa thuận với nhau suốt đời…
Chương I
Chủ trại nông trang là ông Jones đã đóng cửa dãy chuồng
gà để đi ngủ, nhưng say quá quên không cài các cửa sập. Cầm
cây đèn bão hắt thành quầng sáng đung đưa qua lại, ông ta lảo
đảo đi qua sân, rũ ủng qua cửa hậu, tới thùng bia trong bếp
phụ châm một vại cuối ngày, rồi lên gác vào giường ngủ, nơi
bà Jones đã o o ngáy kỹ.
Ánh sáng từ phòng ngủ vừa tắt, khắp khu chuồng trại đã lao
xao nháo nhác hết cả. Suốt ngày hôm ấy trong trại đã truyền
tin cho nhau rằng Ông Cả, con lợn giống Trung Bạch từng
thắng giải đấu xảo ấy, vừa nằm mơ rất lạ vào đêm trước, nên
có điều muốn trao đổi đến toàn thể súc vật ở trại. Tất cả đã
thỏa thuận là toàn trại sẽ họp mặt trong nhà kho lớn khi ông
Jones rời đi yên ổn. Ông Cả (đấy là cách gọi đã quen, chứ khi
đi đấu xảo, tên nó ghi là Bạch Mao Willingdon) được cả trại
tôn kính, con nào cũng sẵn sàng bớt một giờ ngủ để đến nghe
điều nó muốn trình bày.
Ở đầu nhà kho lớn, trên các bục dựng cao, Ông Cả đã sớm
yên vị trong ổ rơm, dưới ngọn đèn bão treo trên rầm. Nó đã
mười hai tuổi, tuy dạo gần đây có hơi phệ, nhưng nhìn chung
trông vẫn oai nghiêm, dáng vẻ thông tuệ và nhân từ bất chấp
đôi răng nanh chưa bao giờ cắt. Chẳng mấy chốc các con vật
khác lục tục tới, con nào con ấy tìm chỗ thoải mái theo thói
quen loài mình. Đầu tiên là ba con chó: Hoa Chuông, Jessie và
Hàm Nghiến, tiếp đến là đàn lợn, chúng ngồi xuống mặt rơm
ngay trước cái bục cao. Gà mái đậu trên bậu cửa sổ, bồ câu vỗ
cánh bay lên xà ngang, cừu và bò cái nằm xuống sau đàn lợn,
ợ cỏ lên nhai lại. Đôi ngựa kéo xe thồ - Đấu Sĩ và Cỏ Ba Lá -
vào cùng nhau, chậm rãi và cẩn thận lựa từng bước đặt bộ vó
lớn rậm lông, đề phòng giẫm phải con vật nhỏ nào lấp trong
rơm. Cỏ Ba Lá là một chị ngựa đẫy đà hiền hậu, đã đến hồi
trung tuổi, thân mình xổ ra sau bốn lần sinh nở không cách nào
lấy lại dáng được. Đấu Sĩ thân hình khổng lồ, cao gần mười
tám gang tay, khỏe bằng hai ngựa thường. Sọc trắng dọc mũi
khiến nó có vẻ hơi đần, và thực tình nó cũng không thuộc loại
sáng láng gì lắm, nhưng được cái tính tình trung thực, sức làm
việc chẳng ai bì, khiến cả trại đều trọng nể. Theo sau đôi ngựa,
dê trắng Muriel và lừa Benjamin đi vào. Kể tuổi thì Benjamin
già nhất trại, tính khí cũng khó chịu nhất hạng. Nó đã ít mở
miệng thì chớ, hễ mở lại toàn buông ra những lời cay độc:
chẳng hạn, nó bảo trời cho nó cái đuôi xua ruồi, nhưng giá
không có đuôi cũng chẳng có ruồi thì còn tốt hơn. Cả trại súc
vật riêng mình nó không thấy cười bao giờ. Có ai hỏi, nó bảo
nó chẳng thấy gì đáng cười sất. Tuy nhiên, dù không nói ra
miệng, nó lại rất tận tình với Đấu Sĩ: mỗi Chủ nhật lại thấy cả
hai ở bên nhau trong bãi thả quây rào sau vườn quả, gặm cỏ
cạnh nhau chẳng nói chẳng rằng.
Đôi ngựa vừa nằm xuống, đã thấy lứa vịt con mới mồ côi
xếp hàng một vào nhà kho, vừa chiếp chiếp yếu ớt vừa ngó
dọc ngó ngang, tìm một chỗ tránh không bị xéo phải. Cỏ Ba
Lá khoanh đôi chân trước to cộ thành bức tường bao lấy
chúng, lũ vịt liền rúc vào nhau ở bên trong rồi lập tức ngủ
thiếp. Mãi sau cùng mới thấy Mollie, ả ngựa bạch xinh xắn
ngốc nghếch vẫn kéo xe ngựa cho ông Jones õng ẹo đi vào,
vừa đi vừa nhai một viên đường. Nó chọn chỗ ngay phía trước
rồi cứ lúc lắc bộ bờm trắng, cốt làm xung quanh để ý đến mấy
dải nơ đỏ tết trên bờm. Sau rốt đến con mèo, như thường lệ, nó
nhìn quanh kiếm chỗ nào ấm nhất, rồi lách vào giữa Đấu Sĩ và
Cỏ Ba Lá, và ngồi đó rừ rừ mãn nguyện suốt cả bài phát biểu
của Ông Cả mà chẳng để vào đầu chữ nào.
Giờ thì súc vật cả trại đã có mặt đủ, chỉ trừ Tiên Tri, con
quạ nhà, đang ngủ trên cây sào sau cửa hậu. Khi Ông Cả thấy
mọi con đều đã ngồi ấm chỗ và chăm chú chờ đợi, nó hắng
giọng và bắt đầu:
“Hỡi các đồng chí! Các đồng chí đều đã nghe tới giấc mơ
kỳ lạ của tôi đêm qua. Nhưng chuyện giấc mơ tôi sẽ nói sau.
Có một điều khác tôi cần nói trước. Thưa các đồng chí, tôi
không nghĩ mình còn ở lại với các đồng chí được nhiều tháng
nữa, thế nhưng trước khi chết tôi thấy mình có bổn phận phải
truyền đạt lại những điều tôi đã chiêm nghiệm bấy lâu. Tôi đã
sống khá lâu rồi, đã có nhiều thời gian nằm một mình trong
chuồng mà suy ngẫm, và tôi dám nói mình thấu hiểu bản chất
cuộc sống trên trái đất này hơn bất cứ con vật nào hiện đang
còn sống. Đấy chính là điều tôi muốn nói với các đồng chí
hôm nay.
“Giờ các đồng chí hãy nghĩ thử xem, bản chất cuộc sống
của chúng ta đây là như thế nào? Chúng ta cứ nhìn thằng vào
sự thực: đời chúng ta vừa khổ sở, vừa nặng nhọc, lại ngắn
ngủi. Chúng ta được sinh ra, chúng ta được nuôi ăn vừa đủ
cầm hơi mà sống, ai có khả năng thì bị buộc làm việc cho đến
khi sức cùng lực kiệt, và ngay khi không còn hữu ích nữa là ta
sẽ bị xẻ thịt một cách dã man không thương xót. Khắp nước
Anh không con vật nào quá một tuổi mà còn biết thế nào là
sung sướng hay nhàn nhã. Khắp nước Anh không con vật nào
được tự do. Đời con vật là đời khổ cực, nô lệ: sự thực rành
rành là thế.
“Nhưng có phải đấy là quy luật tự nhiên sẵn có hay không?
Có phải mảnh đất dưới chân ta đây cằn cỗi đến nỗi không
cung cấp được một cuộc sống đủ đầy cho những ai sống trên
đó? Không đâu, các đồng chí ạ, một ngàn lần không! Đất đai
nước Anh màu mỡ, khí hậu nước Anh thuận hòa, thừa đủ cung
cấp thức ăn dồi dào cho một lượng súc vật lớn hơn nhiều hiện
tại. Chỉ riêng trang trại chúng ta cũng đủ nuôi sống một tá
ngựa, hai chục bò, hàng trăm cừu - mà đấy là sống với tiện
nghi và phẩm giá vượt xa những gì ta có thể hình dung được.
Vậy thì tại sao, tại sao chúng ta cứ sống mãi trong cảnh lầm
than này? Đấy là vì gần như toàn bộ sản phẩm sinh ra từ lao
động của ta đều bị con người cướp mất. Chính đấy, hỡi các
đồng chí, là lời giải đáp cho mọi vấn đề của chúng ta. Tất cả
chỉ tóm gọn trong một chữ: Người. Người là kẻ thù thực sự
duy nhất của chúng ta. Chỉ cần loại bỏ Người, thì sẽ nhổ
phăng vĩnh viễn được gốc rễ của đói kém và lao lực quá độ.
“Người là sinh vật duy nhất chỉ tiêu thụ chứ không sản
xuất. Hắn ta không cho sữa, hắn ta không đẻ trứng, hắn ta yếu
sức không kéo nổi cày, hắn ta chạy chậm không bắt nổi thỏ.
Thế mà hắn ta lại là chúa tể của mọi loài vật. Hắn bắt chúng ta
làm việc, rồi thí cho phần tối thiểu để ta không chết đói, còn
thì hắn ta giữ tất cho mình. Chính nhờ sức chúng ta mà đồng
ruộng được cày, nhờ phân chúng ta mà đất thêm màu mỡ,
nhưng trong chúng ta có ai sở hữu được gì hơn bộ da bọc
xương? Các chị bò trước mặt tôi đây, năm vừa qua các chị đã
cho bao nhiêu nghìn ga lông sữa? Sữa ấy đáng ra phải dành để
nuôi lớn những chú bê lực lưỡng, giờ đã đi đâu cả rồi? Thì
từng giọt đã đổ vào họng kẻ thù của chúng ta. Còn các chị gà
mái, riêng năm qua các chị đã đẻ bao nhiêu quả trứng, vào bao
nhiêu trọng ấy được nở thành những chú gà con? Tất cả số còn
lại đã đi ra chợ để túi tiền của Jones và đám người làm thêm
nặng. Chị nữa, chị Cỏ Ba Lá, bốn cô cậu ngựa chị đã sinh ra,
đáng lẽ phải là niềm vui và chỗ tựa nương khi chị tuổi cao sức
yếu, giờ đâu hết rồi? Chúng nó vừa lên một là bị bán - chị
chẳng bao giờ còn đươc gặp đứa nào nữa. Đổi lại bốn lần nằm
bếp cùng cả đời cật lực trên đồng ruộng - chị được gì ngoài
bữa ăn mạt hạng với bốn vách chuồng?
“Đã khổ cực như thế mà chúng ta cũng không được quyền
sống hết tuổi thọ trời cho nữa. Tôi thì không có gì phàn nàn
cho bản thân, tôi thuộc vào số may mắn. Tôi đã sống đến mười
hai tuổi và đã có hơn bốn trăm đứa con. Cuộc sống tự nhiên
của loài lợn là thế. Nhưng rốt cuộc chẳng con vật nào thoát
khỏi lưỡi dao ác nghiệt. Mấy chú lợn thịt ngồi trước mặt tôi
đây, chỉ trong một năm nữa từng chú một rồi sẽ gào thét mà
trút hơi thở cuối cùng trên mặt thớt. Cái kết cuộc kinh hoàng
ấy đợi sẵn từng kẻ trong chúng ta: bò hay lợn, gà hay cừu,
không chừa ai hết. Cả ngựa với chó cũng đừng mong thoát
được. Anh Đấu Sĩ, cái ngày những bắp thịt vạm vỡ kia xọp đi
cũng là ngày Jones bán anh cho tay hàng thịt ngựa, kẻ sẽ cắt
cổ anh rồi luộc chín, ném cho lũ chó săn cáo. Còn mấy chị chó
kia, khi nào các chị thân già răng rụng, Jones sẽ buộc gạch vào
cổ các chị mà đem dìm xuống cái ao hắn gặp đầu tiên.
“Vậy chẳng phải rõ như ban ngày, hỡi các đồng chí, rằng
tất cả những điều tàn ác đổ xuống đời chúng ta đây đều do ách
chuyên chế của con người mà ra? Chỉ cần loại bỏ Người là
mọi sản phẩm từ lao động của ta đều sẽ thuộc về ta. Gần như
tức thì ta sẽ được tự do và giàu có. Như vậy hỏi ta phải làm gì?
Tất nhiên là phải phấn đấu ngày đêm, cống hiến trọn tinh thần
và sức lực để mà lật đổ loài người! Thông điệp của tôi cho các
đồng chí chỉ có một lời đó thôi: Khởi nghĩa! Tôi không biết
khi nào thì Khởi nghĩa sẽ nổ ra, có thể tuần sau mà cũng có thể
một trăm năm nữa, nhưng tôi biết, rành rành như tôi biết có ổ
rơm dưới chân mình đây, rằng sớm hay muộn công lý cũng sẽ
được thực thi. Hãy kiên định mục đích ấy, hỡi các đồng chí,
trong suốt quãng đời ngắn ngủi còn lại của mình! Và trên hết,
hãy truyền lại thông điệp của tôi cho lớp hậu sinh, để các thế
hệ về sau tiếp tục đấu tranh cho đến ngày thắng lợi.
“Và xin nhớ cho, các đồng chí ạ, phải cương quyết đừng
bao giờ lao động. Đừng để luận điệu xuyên tạc đánh lạc
hướng. Đừng nghe kẻ nào rao giảng rằng Người và súc vật có
chung quyền lợi, rằng thịnh vượng của bên này cũng là phát
đạt của bên kia. Chỉ rặt là dối trá thôi. Con người không vì
quyền lợi của bất kỳ sinh vật nào khác ngoài chính bản thân
hắn. Còn giữa loài vật chúng ta với nhau, cần phải tuyệt đối
đoàn kết, tuyệt đối đồng tâm đồng chí đấu tranh. Mọi con
người đều là kẻ thù. Mọi con vật đều là đồng chí.”
Đúng lúc ấy xảy ra náo loạn ầm ĩ. Trong lúc Ông Cả phát
biểu có bốn con chuột lớn bò ra trong hang chuột và ngồi xổm
lắng nghe. Bầy chó bất chợt nhìn thấy, và may nhờ trong tích
tắc vẫn kịp chui tọt vào hang mà bầy chuột mới toàn mạng.
Ông Cả giơ móng lên đề nghị trật tự.
“Các đồng chí,” nó nói, “có một điểm ta cần thống nhất
ngay bây giờ. Các động vật hoang như chuột hay thỏ, họ là
bạn hay là kẻ thù của chúng ta? Chúng ta hãy đưa ra bỏ phiếu.
Tôi xin đặt câu hỏi với hội nghị: Chuột có phải là đồng chí
không?”
Cuộc bỏ phiếu nhoáng cái đã xong, đa số áp đảo công nhận
chuột cũng là đồng chí. Phiếu chống thì có bốn, ba con chó và
con mèo, mà như sau này thì phát hiện, mèo ta đã bỏ cả hai
đằng. Ông Cả tiếp tục:
“Tôi không cần nhiều lời nữa. Tôi chỉ muốn nhắc lại, luôn
luôn các đồng chí phải nhớ bổn phận là căm thù Người cùng
những thói tục của Người. Bất cứ thứ gì đi hai chân đều là kẻ
thù. Bất cứ thứ gì đi bốn chân hay có cánh đều là bằng hữu.
Và phải nhớ thêm rằng, đã chiến đấu chống lại Người, chúng
ta không được thay đổi thành ra giống như chúng. Kể cả sau
này khuất phục được chúng rồi, các đồng chí cũng không được
tiêm nhiễm các thói hư tật xấu của chúng. Không con vật nào
được phép sống trong nhà, hoặc ngủ trên giường, hoặc mặc
quần áo, hoặc uống bia rượu, hoặc hút thuốc lá, hoặc dùng đến
tiền, hoặc trao đổi buôn bán. Mọi thói quen của Người đều
xấu. Và trên hết, không con vật nào được phép áp chế giống
loài mình. Yếu hay khỏe, khôn ngoan hay chất phác, chúng ta
cũng là anh em. Không con vật nào được giết hại một con vật
khác. Mọi con vật đều bình đẳng.
“Giờ thì, các đồng chí ạ, tôi sẽ kể lại giấc mơ đêm qua. Tôi
không đủ lời lẽ mà mô tả lại giấc mơ ấy cho các đồng chí. Đấy
là giấc mơ về mặt đất này một mai khi Người đã hoàn toàn
vắng bóng. Nhưng nó lại khiến tôi nhớ lại một điều tôi đã quên
từ lâu lắm. Rất nhiều năm trước, khi tôi còn là một chú lợn
con, mẹ tôi cùng các bà lợn nái vẫn thường hát một bài hát cổ
mà họ chỉ nhớ giai điệu cùng bốn chữ đầu. Từ tấm bé tôi đã
thuộc giai điệu ấy nhưng đã quên bẵng từ lâu rồi. Song đêm
qua trong giấc mơ, giai điệu kia đã trở về với tôi. Không chỉ
thế mà cả lời ca cũng trở lại - tôi tin chắc đấy là những lời giới
súc vật xưa kia đã hát, những lời đã phai khỏi trí nhớ nhiều thế
hệ nay. Tôi sẽ hát bài đó cho các đồng chí nghe. Tôi đã già rồi,
giọng cũng đã khản, nhưng được tôi dạy giai điệu rồi thì các
đồng chí có thể tự hát hay hơn. Bài hát tên là Súc vật Anh
quốc.
Ông Cả húng hắng giọng rồi cất tiếng hát. Đúng là giọng nó
hơi khản như đã nói, nhưng nó vẫn hát rất khỏe, và giai điệu
bài hát khá náo nức, lai giữa điệu Song thất và Lục bát. Lời bài
hát như thế này:
Súc vật Ai Len và Anh quốc
Ở đất này hay thuộc nơi đâu
Nghe tin báo trước từ lâu
Về tương lai đó một màu sáng tươi
Sớm muộn gì ngày vui cũng đến
Lũ người kia sẽ xuống bùn đen
Đồi xanh cho chí ruộng vườn
Để riêng súc vật an nhàn dạo chơi.
Mũi ta thôi bị cùm đồng siết
Vai ta đâu còn ách cày bừa
Roi đòn dừng quất sớm trưa
Hàm thiếc đinh sắt cũng vừa gỉ han
Tới ngày đó giàu sang khó tả
Biết bao nhiêu của nả, cửa nhà
Lúa, ngô, khoai, sắn, đậu, cà
Của mình cả đấy ai mà dám tranh.
Đồng ruộng sẽ bừng lên xán lạn
Nước trong nguồn hết cạn lại đầy
Gió trời vi vút thế này
Là mừng súc vật đến ngày tự do
Vì ngày đó chúng ta chung sức
Dẫu thân này chết trước bình minh
Ngựa bò gà ngỗng súc sinh
Nhất tề tranh đấu mà giành tự do.
Súc vật Ai Len và Anh quốc
Ở đất này hay thuộc nơi đâu
Nghe tin thời báo cho mau
Kìa tương lai đó một màu sáng tươi.
Bài hát khiến đám thú vật phấn khích vô kể. Ông Cả còn
chưa hát hết bài, chúng đã bắt chước hát theo. Cả những con
vật trì độn nhất cũng đã nhớ được giai điệu cùng vài chữ lõm
bõm, còn những con thông minh như lợn hay chó thì chỉ vài
phút là thuộc lòng cả bài. Rồi sau vài lần dượt thử, cả trại hát
vang Súc vật Anh quốc thành một dàn đồng ca rộn rã. Đàn bò
rống lên, lũ chó tru lên, đám cừu be lên, tốp ngựa hí lên, bầy
vịt quạc lên. Chúng hào hứng với bài ca đến nỗi hát liền một
mạch năm lần không nghỉ, và chắc sẽ còn hát đến sáng nếu
không bị ngăn cản giữa chừng.
Không may là tiếng ồn ào đã đánh thức ông Jones, ông ta
lập tức bật dậy khỏi giường, tin chắc là có cáo vào trong sân.
Tóm vội cây súng vẫn dựng góc phòng ngủ, ông ta bắn một
tràng đạn số 6 vào bóng tối. Loạt đạn găm vào tường nhà kho,
cuộc hội họp cuống cuồng giải tán. Con nào con ấy chạy về
chỗ ngủ của mình. Bầy chim bay lên sào, đám thú nằm xuống
rơm, và trong chốc lát cả trại đã thiếp ngủ.
Chương II
Ba đêm sau, Ông Cả qua đời trong giấc ngủ bình yên. Xác
nó được chôn ở cuối vườn quả.
Lúc đó là đầu tháng Ba. Suốt ba tháng kế, cả trại dồn dập
những hoạt động bí mật. Bài diễn thuyết của Ông Cả đã mở
mắt cho những con vật thông minh nhất, đem lại một quan
niệm sống hoàn toàn mới. Chúng không biết cuộc Khởi nghĩa
Ông Cả tiên đoán bao giờ thì nổ ra, cũng chẳng có cớ gì mà
đoán sẽ nổ ra ngay trong thời của mình, nhưng chúng hiểu rõ
bổn phận của mình là dọn đường cho Khởi nghĩa. Nhiệm vụ
dạy bảo tổ chức số còn lại nghiễm nhiên rơi vào tay đám lợn,
những con vẫn được thừa nhận là thông minh nhất trong các
loài. Nổi trội hơn cả là hai lợn giống trẻ, Tuyết Cầu và Nã Phá
Luân, đều đang được ông Jones chăm bẵm chờ đẩy đi. Nã Phá
Luân thuộc giống Berkshire, trại chỉ có một con Berkshire ấy,
thân đen to lớn trông khá dữ tính ít xởi lởi nhưng có tiếng là
muốn gì thì làm cho bằng được. Tuyết Cầu là con lợn sôi nổi
hơn Nã Phá Luân, nói năng hoạt bát mà lại nhiều sáng kiến
hơn, nhưng được nhận định là tính cách không sâu sắc bằng.
Còn lại các lợn đực trong trại đều là lợn thịt. Có tiếng nhất là
một con lợn nhỏ tròn trùng trục tên là Mồm Loa, má phúng
phính, mắt hấp háy, đi lại nhanh nhẹn, giọng the thé như còi.
Nó là một tay nói năng dẻo quẹo, cứ mỗi lần tranh luận đến
chỗ hóc búa lại có cái kiểu loi choi nhảy từ chân này sang
chân kia, cái đuôi phất phất, chẳng hiểu sao vẻ ấy lại dễ thu
phục người khác. Xung quanh bảo Mồm Loa có thể nói đen
thành ra trắng được.
Bộ ba này đã phát triển lời dạy của Ông Cả thành hẳn một
hệ tư tưởng hoàn chỉnh, mà chúng đặt tên là Súc vật Chủ
nghĩa. Mỗi tuần vài tối, sau khi ông Jones đã ngủ, cả ba triệu
họp kín trong nhà kho lớn, thuyết giải các nguyên lý Súc vật
Chủ nghĩa cho cả trại. Ban đầu chúng chỉ gặp phải thái độ ngu
ngốc và dửng dưng. Vài con vật dẫn ra bổn phận phải trung
thành với ông Jones, mà chúng gọi là “Ông Chủ”, hay phát
biểu ngù ngờ kiểu như “Nhưng ông Jones nuôi chúng ta ăn
mà. Ông ấy mà đi thì chúng ta đến chết đói mất thôi.” Những
con khác thì hỏi đại loại “Việc gì phải quan tâm những chuyện
sau khi ta chết rồi?” hay là “Nếu cái Khởi nghĩa này đằng nào
cũng đến thì chúng ta có phấn đấu vì nó hay không cũng đâu
khác gì?” khiến đám lợn khó khăn lắm mới giảng được cho
chúng hiểu ra, tư duy thế là trái với tinh thần Súc vật Chủ
nghĩa. Trùm ngu ngốc là câu hỏi của Mollie, ả ngựa bạch. Câu
đầu tiên nó thốt ra với Tuyết Cầu là: “Khởi nghĩa xong í, có
còn đường nữa hông?”
“Không,” Tuyết Cầu đáp chắc nịch. “Trong trại chúng ta
không có phương tiện sản xuất đường. Hơn nữa tại sao phải
cần đường? Ai cũng sẽ được ăn yến mạch cỏ khô thỏa thích.”
“Thế tui có được tết nơ trên bờm hông?” Mollie hỏi tiếp.
“Đồng chí Mollie,” Tuyết Cầu đáp, “mấy cái nơ đồng chí
mê thích ấy đều là xiềng xích tôi đòi. Đồng chí không thấy là
tự do còn đáng giá hơn nơ với nút ư?”
Mollie đồng ý, nhưng cô ả có vẻ không tin tưởng lắm.
Đàn lợn còn phải đấu tranh vất vả hơn nữa để dập tắt những
lời dối trá mà Tiên Tri, con quạ nhà, gieo rắc. Là vật cưng của
chủ trại Jones, Tiên Tri không những giỏi do thám và đưa
chuyện, mà còn tài nói như rót vào tai. Nó kể xằng về một cõi
huyền bí tên là Đỉnh Kẹo Bông, nơi mọi con vật chết rồi đều
đến đó. Nơi này ở đâu đó trên trời, ngay trên mấy tầng mây,
Tiên Tri kể. Trên Đỉnh Kẹo Bông một tuần có bảy Chủ nhật,
quanh năm cỏ ba lá xanh mướt, đường viên với bánh hạt lanh
mọc ngay bờ giậu. Lũ súc vật đều ghét Tiên Tri vì nó chỉ tán
láo cả ngày, không chịu làm việc, nhưng có vài con lại tin
chuyện Đỉnh Kẹo Bông, khiến đám lợn phải khô cổ nói lý cho
chúng hiểu không có chốn như thế.
Học trò trung thành nhất của chúng là cặp ngựa kéo xe thồ,
Đấu Sĩ và Cỏ Ba Lá. Cả hai nếu cần tự suy nghĩ cho ra vấn đề
thì rất ù lì, nhưng một khi đã coi lợn là thầy thì chúng nghe gì
cũng như nuốt lấy, rồi bằng những lý lẽ đơn giản truyền lại
cho những con khác. Không một buổi họp kín nào trong kho
vắng mặt đôi ngựa, chúng luôn bắt nhịp bài Súc vật Anh quốc
mà buổi nào cũng hát bế mạc.
Sự thể hóa ra là Khởi nghĩa thắng lợi sớm hơn và dễ dàng
hơn bất kỳ kẻ nào từng hình dung. Những năm trước, dù có
phũ tay cai quản, ông Jones vẫn là một nhà nông cừ, nhưng
gần đây ông ta đã đến hồi mạt vận. Từ độ kiện cáo mất tiền
ông ta suy sút tinh thần hẳn, lại còn quay sang rượu chè quá
độ. Có khi cả mấy ngày liền, ông ta ườn người trên cái ghế
dựa tay tròn trong bếp, mắt đọc báo mồm nốc bia, thỉnh
thoảng nhúng vỏ bánh vào bia ném cho Tiên Tri. Kẻ ăn người
làm đâm ra lười biếng, dối trá, ruộng đồng toàn cỏ, chuồng trại
tốc mái chả ai thay, hàng giậu xơ xác chả ai chăm, lũ súc vật
ngày nào cũng hóp bụng.
Tháng Sáu tới, cỏ khô sắp đến lúc cắt. Đêm trước ngày
Trung Hạ rơi vào thứ Bảy, ông Jones vào làng Willingdon,
uống say mèm ở quán Sư Tử Đỏ đến tận trưa Chủ nhật mới
mò về trại. Từ sáng sớm, người làm đã vắt sữa bò rồi bỏ đi săn
thỏ, chẳng thèm cho gia súc ăn. Ông Jones về đến nhà lập tức
lăn ra ngủ trên sô pha phòng khách, tờ News of the World đậy
trên mặt, cho nên đến tối mịt lũ súc vật đói vẫn hoàn đói. Cuối
cùng chúng không nhịn nổi nữa. Một con bò sữa lùa sừng húc
tung cửa kho ngũ cốc, lũ súc vật sục vào các đấu ăn thỏa thuê.
Đúng lúc đó ông Jones tỉnh dậy. Trong nháy mắt, ông ta cùng
bốn người làm đã vào đến kho, roi da lăm lăm. Quật tới tấp tứ
phía. Lũ súc vật đói ăn đã đến hồi hết chịu nổi. Nhất tề như
một, dù chẳng hề bàn tính trước, tất cả lăn xả vào mấy kẻ bạo
ngược. Jones với người làm bỗng thấy sừng húc vó nện bốn
phía xông tới. Sự tình đã vượt khỏi tầm kiểm soát của họ. Họ
chưa thấy gia súc xử sự như thế này bao giờ, và cảnh tượng
những sinh vật ngày thường vẫn đánh đập hành hạ mặc tình
bỗng dưng vùng dậy khiến họ sợ muốn bở vía. Cố gắng chống
trả thêm được một chốc, cả bọn co cẳng tháo lui. Một phút
sau, cả năm người đã vắt chân lên cổ mà chạy dọc đường mòn
dẫn xuống đường cái, lũ gia súc đại thắng đuổi dài đằng sau.
Bà Jones từ cửa phòng ngủ ngó ra, thấy cảnh tượng đó vội
tống ít đồ đạc vào cái túi thổ cẩm rồi theo đường khác lẻn ra
khỏi trang trại. Tiên Tri nhảy khỏi sào đập cánh bay theo bà,
miệng kêu quàng quạc. Trong lúc đó lũ gia súc đã đuổi Jones
cùng người làm ra tận đường cái, rồi đẩy sầm cái cổng gỗ
gióng ngang chặn đằng sau bọn họ. Vậy là, dù chúng chưa thật
hiểu chuyện gì vừa xảy ra, Khởi nghĩa đã kết thúc thắng lợi:
Jones đã bị trục xuất, còn Trại Nông Trang đã về tay chúng.
Mấy phút đầu, lũ súc vật như còn chưa tin vào vận may của
mình. Việc đầu tiên là chúng họp nhau chạy tế một vòng khắp
các ngóc ngách trang trại như để xem có con người nào còn ẩn
núp ở góc nào không, rồi chúng lại phi về khu chuồng trại,
quyết tâm quét sạch mọi vết tích đáng ghét còn lại thời Jones
cai trị. Buồng treo yên cương cuối tàu ngựa bị phá toang,
những hàm thiếc, khoen mũi, xích chó, những lưỡi dao nghiệt
ngã ông Jones vẫn dùng thiến cừu hoạn lợn bị quẳng ráo
xuống giếng.
Dây cương, đai mũi, miếng che mắt cùng bao mõm thức ăn
tủi nhục, đều được ném cả vào đống lửa đốt rác trong sân. Roi
da cùng chung số phận. Mọi con vật đều nhảy cẫng reo hò khi
thấy đống roi da bắt lửa đùng đùng. Tuyết Cầu còn quăng vào
lửa cả mấy cái nơ vẫn thắt vào bờm và đuôi ngựa mỗi dịp chợ
phiên.
“Nơ cũng phải coi là quần áo,” nó nói, “tức cũng là dấu
hiệu của con người. Tất cả súc vật đều phải trần chuồng.”
Nghe thấy thế, Đấu Sĩ liền ngoạm cái nón rơm nhỏ vẫn đội
vào mùa hè để ruồi khỏi vào tai, rồi hất luôn vào lửa cùng mấy
thứ còn lại.
Chẳng mấy chốc lũ gia súc đã tiêu hủy hết mọi thứ nhắc
nhở chúng nhớ lại thời của Jones. Nã Phá Luân dẫn tất cả về
lại kho ngũ cốc, chia cho mỗi con khẩu phần lúa mì gấp đôi
thường ngày, chó thì mỗi con được hai chiếc bánh quy. Tiếp đó
chúng đồng ca liên tiếp bảy lượt Súc vật Anh quốc từ đầu đến
cuối, rồi chúng về chuồng, ngủ một giấc ngon lành chưa từng
có từ trước đến nay.
Nhưng chúng vẫn dậy đúng bình minh như thường lệ, và
sực nhớ ra chiến thắng huy hoàng vừa hôm trước, tất cả theo
nhau đổ ra bãi chăn.
Vào sâu trong bãi một chút có một gò đất, từ đó có thể bao
quát gần hết trang trại. Lũ gia súc chạy ùa lên đỉnh gò, đưa
mắt nhìn quanh dưới ánh ban mai trong trẻo. Phải, tất cả là của
chúng - mọi thứ hiện ra trước mắt đều là của chúng! Ý nghĩ ấy
khiến chúng say lòng, chúng nhảy cỡn khắp nơi, chúng bật
tung lên không từng bước dài khoái trí. Chúng nằm lăn giữa
sương mai, chúng ngoạm đầy miệng cỏ mùa hè ngọt lịm,
chúng đá vung từng nắm đất đen, hít căng hơi đất nồng nàn.
Rồi chúng đi một vòng xem xét khắp trang trại, đến mỗi nơi
lại lặng người thán phục, từ chân ruộng mì, đồng cỏ khô, đến
vườn quả, hồ nước ăn, khóm rừng nhỏ. Cứ như thể lần đầu
chúng nhìn thấy những thứ ấy, thậm chí ngay lúc này chúng
vẫn chưa tin được là tất cả đã về tay mình.
Rồi chúng nối đuôi nhau quay lại khu chuồng trại, đứng im
lặng ngoài cửa ngôi nhà chủ. Cả nhà này cũng đã về tay
chúng, nhưng chúng sợ không dám vào. Song le chỉ lát sau,
Tuyết Cầu và Nã Phá Luân đã huých bật cửa cho lũ súc vật
xếp hàng một đi vào, bước từng bước thận trọng để khỏi xô
động thứ gì. Chúng rón rén từ phòng này sang phòng kia, khẽ
khàng không dám nói to, và trố mắt nhìn cảnh sống xa hoa
không tin nổi, nào giường nệm lông, nào gương soi, nào sô
pha nhồi lông ngựa, nào thảm len dệt nổi, nào tranh thạch bản
Nữ hoàng Victoria treo trên bệ lò sưởi phòng khách. Tất cả
còn đang xuống cầu thang thì phát hiện không thấy Mollie
đâu. Quay ngược lên, các con khác thấy nó còn ở trong phòng
ngủ chính. Nó vừa thấy được cái nơ xanh lơ trên bàn trang
điểm của bà chủ, còn đang ướm thử trên vai và ngắm nghía
mình trong gương, trông rất ngớ ngẩn. Những con khác
nghiêm khắc quở mắng nó, rồi tất cả ra khỏi nhà. Mấy tảng
thịt muối treo trong bếp được đem ra chôn cất, thùng bia trong
bếp phụ bị Đấu Sĩ đá một cú bẹp rúm, nhưng ngoài ra chúng
không đụng đến thứ gì khác trong nhà. Tất cả đồng tình ra
quyết nghị tại chỗ, bảo tồn ngôi nhà chủ làm nhà lưu niệm. Ai
nấy đều nhất trí rằng không con vật nào được đến sống trong
nhà.
Lũ súc vật ăn sáng xong, Tuyết Cầu và Nã Phá Luân lại
triệu tập cả trại.
“Các đồng chí,” Tuyết Cầu nói, “giờ đã sáu rưỡi rồi mà
chúng ta còn một ngày dài trước mắt. Hôm nay ta sẽ bắt đầu
thu hoạch cỏ khô. Nhưng trước hết còn một vấn đề này nữa.”
Bấy giờ đàn lợn mới tiết lộ rằng ba tháng qua chúng đã tự
học mà biết đọc biết viết, nhờ cuốn học vần cũ của con cái ông
Jones bị quẳng ra đống rác. Nã Phá Luân cho tìm mấy lọ sơn
đen trắng, tiếp đó dẫn đường cả bọn xuống cánh đồng gỗ
gióng ngang mở ra đường cái. Rồi Tuyết Cầu (là kẻ viết giỏi
nhất bọn) cặp chổi sơn giữa hai móng, xóa bỏ chữ TRẠI
NÔNG TRANG trên thanh ngang trên cùng mà viết thay vào
đó TRẠI SÚC VẬT. Đấy sẽ là tên trại từ giờ trở đi. Sau đó tất
cả quay lại khu chuồng trại, Tuyết Cầu và Nã Phá Luân lại cho
lấy cái thang, sai đặt dựa vào vách tường cuối nhà kho lớn.
Chúng giải thích tiếp, sau ba tháng tìm tòi, đàn lợn đã rút gọn
thành công các nguyên tắc Súc vật Chủ nghĩa thành chỉ còn
bảy điều răn. Bây giờ bảy điều răn ấy sẽ được viết lên tường,
trở thành bộ luật bất di bất dịch, súc vật trong Trại Súc Vật sẽ
theo đó mà sống vĩnh viễn về sau. Hơi chật vật (vì lợn đứng
thăng bằng trên thang không phải dễ) Tuyết Cầu trèo lên bắt
tay vào việc, Mồm Loa đứng dưới vài bậc giơ lọ sơn. Các điều
răn được viết chữ trắng lớn trên tường quét nhựa đường đen,
cách ba mươi thước vẫn đọc rõ. Tất cả là thế này:
BẢY ĐIỀU RĂN
1. Bất cứ thứ gì đi hai chân đều là kẻ thù.
2. Bất cứ thứ gì đi bốn chân, hay có cánh, đều là bằng hữu.
3. Không con vật nào được mặc quần áo.
4. Không con vật nào được ngủ trên giường.
5. Không con vật nào được uống bia rượu.
6. Không con vật nào được giết con vật khác.
7. Mọi con vật đều bình đẳng.
Chữ viết rất ngay ngắn, và ngoài “bằng hữu” bị viết thành
“bằng hĩu” và một chữ “Đ” viết ngược thì từ nào cũng đúng
chính tả. Tuyết Cầu đọc to một lượt cho tất cả cùng nghe. Mọi
con vật đều gật gù tán đồng hết thảy, những con sáng dạ lập
tức nhẩm thuộc lòng các điều răn.
“Bây giờ, hỡi các đồng chí,” Tuyết Cầu ném chổi sơn kêu
lớn, “ra đồng thôi! Chúng ta hãy thi đua lập thành tích thu
hoạch chóng hơn của Jones cùng đám người làm của hắn.”
Nhưng đúng lúc đó, ba chị bò cái vốn đã nhấp nhổm từ nãy
giờ bật rống mấy tiếng lớn. Chúng chưa được vắt sữa cả hai
mươi tư giờ rồi, mấy bầu vú căng muốn nứt. Nghĩ ngợi một
lúc, đàn lợn cho mang xô đến rồi bắt tay vắt sữa khá thành
công, móng lợn hóa ra rất hợp việc này. Một lúc sau đã có năm
xô sữa béo ngậy sủi bọt, nhiều con vật đưa mắt nhìn khá hứng
thú.
“Bao nhiêu sữa thế này sẽ để làm gì?” ai đó hỏi.
“Thỉnh thoảng Jones lấy trộn vào cám cho chúng tôi đấy,”
một gà mái cho biết.
“Bận tâm đến sữa làm gì, các đồng chí!” Nã Phá Luân đứng
chắn trước dãy xô kêu lớn. “Cái đó sẽ có người lo. Vụ thu
hoạch quan trọng hơn nhiều. Đồng chí Tuyết Cầu sẽ dẫn
đường. Tôi đợi vài phút sẽ theo ngay. Tiến lên, các đồng chí!
Đồng cỏ đang chờ.”
Vậy là lũ súc vật tiến quân ra đồng cắt cỏ, và đến tối khi
chúng trở về, thì chẳng thấy sữa đâu nữa.
Chương III
Lôi được cỏ vào, chúng đổ mồ hôi sôi nước mắt biết bao!
Nhưng công khó cũng ra thành quả, vụ thu hoạch còn thành
công hơn cả mong chờ.
Làm việc có nhiều lúc thật khó: công cụ thiết kế là cho
người dùng chứ không phải súc vật, đã thế chẳng con vật nào
dùng được những món phải đứng trên chân sau nên càng bất
lợi. Nhưng đàn lợn khôn ngoan nghĩ ra được cách khắc phục
mọi khó khăn. Lại thêm đôi ngựa hiểu rõ cánh đồng đến từng
tấc, thực tế là chúng nắm chắc việc cắt cỏ đánh đống hơn
nhiều so với Jones cùng đám người làm. Đàn lợn không trực
tiếp mó tay, chỉ giám sát chỉ đạo số còn lại...
 





