Sống Đơn Giản Cho Mình Thanh Thản - Chương 1
Bi Mat Sau Kin Nhat - Jeffrey Archer

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 13h:08' 07-03-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 13h:08' 07-03-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Mở đầu
B
ig Ben đổ chuông bốn tiếng.
Mặc dù đã kiệt sức bởi những gì diễn ra tối hôm đó, nhưng
vẫn còn đủ chất kích thích được bơm đi khắp cơ thể khiến vị Đại
Chưởng ấn hầu như không thể ngủ nổi. Ông đã cam đoan với các
thành viên Thượng viện sẽ đưa ra một phán quyết cho vụ tranh
tụng của Barrington chống lại Clifton về vấn đề thừa kế tước hiệu
lâu đời và tài sản khổng lồ của gia tộc.
Thêm một lần nữa, ông cân nhắc các sự kiện thực tế, vì ông tin
vào chúng, và chỉ có chúng được phép quyết định phán quyết cuối
cùng của ông.
Khoảng bốn mươi năm về trước, khi ông bắt đầu tập sự, người
hướng dẫn đã khuyên ông phải loại bỏ mọi cảm xúc hay thiên kiến
cá nhân khi cần đưa ra một phán quyết về thân chủ hay về vụ tranh
tụng đang diễn ra trước mắt. Ngành luật không phải là ngành dành
cho những kẻ có trái tim yếu đuối hay lãng mạn, sư phụ của ông đã
nhấn mạnh như thế. Tuy vậy, sau khi tuân thủ tôn chỉ này trong bốn
thập kỷ, ngài Đại Chưởng ấn buộc phải thừa nhận ông chưa bao
giờ gặp phải một vụ việc cân bằng đến mức gần như tuyệt đối thế
này. Ông chỉ ước gì F. E. Smith⁜ vẫn còn sống để ông có thể tìm
kiếm lời khuyên từ sư phụ của mình.
Một mặt… ông căm ghét những lời lẽ sáo mòn này biết chừng
nào. Một mặt, Harry Clifton đã ra đời sớm hơn ba tuần so với người
bạn thân nhất của anh ta, Giles Barrington: đó là thực tế. Mặt khác,
Giles Barrington, không nghi ngờ gì nữa, là con trai chính thức của
Sir Hugo Barrington và người vợ kết hôn hợp pháp của ông ta,
Elizabeth: đó là một thực tế nữa. Nhưng điều đó vẫn không làm
chàng trai trở thành người con được ra đời sớm nhất của Sir Hugo,
và đó là điểm mấu chốt của bản di chúc.
Một mặt, Maisie Tancock sinh Harry vào ngày thứ 28 của tháng
thứ chín sau khi bà ta thừa nhận đã có quan hệ tình dục với Sir
Hugo Barrington khi họ tham gia chuyến dã ngoại dành cho công
nhân tới Weston-super-Mare⁜. Thêm một thực tế. Mặt khác, Maisie
Tancock đã kết hôn với Arthur Clifton khi Harry ra đời, và giấy khai
sinh khẳng định rõ ràng Arthur là bố đứa trẻ. Một thực tế khác.
Một mặt… Dòng suy nghĩ của Đại Chưởng ấn quay trở lại
những gì đã diễn ra trong phòng họp sau khi Viện cuối cùng cũng
thực hiện biểu quyết để quyết định xem Giles Barrington hay Harry
Clifton nên được thừa kế tước vị và tất cả những gì đi kèm. Ông
nhớ lại chính xác những lời của người phụ trách kiểm phiếu khi
công bố kết quả trước Thượng viện đông kín.
“Đồng ý ở bên phải, hai trăm bảy mươi ba phiếu. Không đồng ý
ở bên trái, hai trăm bảy mươi ba phiếu.”
Những tiếng xôn xao ồn ã vang lên khắp các băng ghế đỏ⁜.
Ông chấp nhận việc kết quả bỏ phiếu cân bằng sẽ buộc ông phải
đảm nhận trách nhiệm không hề mong muốn là đưa ra quyết định ai
là người được thừa kế tước vị của gia đình Barrington, công ty hàng
hải danh tiếng, cũng như mọi tài sản, đất đai, vật sở hữu có giá trị.
Giá như không có nhiều thứ đến vậy gắn liền với quyết định của
ông khi tính đến tương lai của hai người đàn ông trẻ tuổi. Liệu ông
có nên chịu ảnh hưởng bởi thực tế Giles Barrington muốn được
thừa kế tước vị còn Harry Clifton thì không? Không, ông không
được làm thế. Như Lord Preston đã chỉ ra trong bài diễn thuyết đầy
sức thuyết phục của ông ta từ băng ghế phe đối lập, rằng như thế
sẽ tạo ra một tiền lệ xấu, cho dù nó thật tiện lợi.
Một mặt, nếu ông thực sự ra phán quyết có lợi cho Harry… cuối
cùng ông ngủ thiếp đi, để rồi bị đánh thức bởi một tiếng gõ cửa khe
khẽ vào lúc bảy giờ, một thời điểm muộn bất thường. Ông rên lên,
đôi mắt vẫn nhắm trong khi đếm từng tiếng chuông của Big Ben.
Chỉ còn ba giờ đồng hồ nữa trước khi ông phải đưa ra phán quyết,
và ông vẫn chưa đi được tới quyết định.
Đại Chưởng ấn rên lên lần thứ hai khi ông đặt chân xuống sàn,
xỏ dép vào và đi sang phòng tắm. Thậm chí lúc ngồi trong bồn tắm,
ông vẫn tiếp tục đánh vật với vấn đề.
Thực tế. Harry Clifton và Giles Barrington đều bị mù màu, giống
như Sir Hugo. Thực tế. Bệnh mù màu chỉ có thể di truyền từ mẹ,
vậy nên đây chỉ đơn thuần là trùng hợp ngẫu nhiên, và cần được
loại bỏ trên đúng cơ sở đó.
Ông ra khỏi bồn tắm, lau khô người, khoác lên mình một chiếc
áo mặc trong nhà. Sau đó, ông ra khỏi phòng ngủ, đi theo hành lang
trải thảm dày tới phòng làm việc của mình.
Đại Chưởng ấn cầm một cây bút máy và viết hai cái họ
“Barrington” và “Clifton” lên đầu một trang giấy, phía dưới ông bắt
đầu liệt kê những ưu thế và yếu thế của từng người. Cho tới khi ông
viết kín ba trang giấy với thứ chữ gọn ghẽ như bản khắc đồng của
mình, Big Ben đã đánh tám tiếng chuông. Song ông vẫn chẳng sáng
suốt được thêm chút nào.
Ông đặt bút xuống và miễn cưỡng đi ăn sáng.
Đại Chưởng ấn ngồi một mình, lặng lẽ dùng bữa sáng. Thậm chí
ông không để mắt tới những số báo ra buổi sáng được xếp ngay
ngắn ở bên đầu bàn, cũng không bật máy thu thanh lên, vì ông
không muốn một bình luận viên không được thông tin đầy đủ nào
đó làm ảnh hưởng đến phán quyết của mình. Những tờ báo nghiêm
túc tập trung vào tương lai của nguyên tắc thừa kế thế tập nếu Đại
Chưởng ấn phán quyết có lợi cho Harry, trong khi các tờ lá cải
dường như chỉ bận tâm đến chuyện liệu Emma có thể kết hôn với
người đàn ông cô yêu hay không.
Khi ông quay trở lại phòng tắm để đánh răng, cán cân công lý
vẫn chưa nghiêng về bên nào.
Ngay sau khi Big Ben đánh chuông báo chín giờ, ông quay trở
lại phòng làm việc và đọc lại các ghi chép của mình với hy vọng
rằng cuối cùng cán cân cũng sẽ nghiêng về bên này hay bên kia,
song nó vẫn cân bằng tuyệt đối. Ông tiếp tục nghiền ngẫm các ghi
chú khi một tiếng gõ cửa nhắc nhở Đại Chưởng ấn rằng cho dù có
hình dung quyền lực của ông lớn đến thế nào, ông vẫn không thể
ngăn được thời gian trôi đi. Ông thở dài, xé ba tờ giấy khỏi tập sổ
ghi chép, đứng dậy, tiếp tục đọc trong khi bước ra khỏi phòng làm
việc và đi xuống hành lang. Khi vào phòng ngủ, ông trông thấy East,
người hầu phòng, đang đứng cạnh chân giường, chờ đợi thực hiện
phần việc buổi sáng.
East bắt đầu bằng việc khéo léo cởi chiếc áo mặc trong nhà
bằng lụa ra trước khi giúp ông chủ mặc lên người một chiếc sơ mi
trắng vừa là xong vẫn còn ẩm. Tiếp theo, một cái cổ cồn hồ bột, rồi
đến một chiếc khăn quàng cổ nhỏ tinh tế có dây buộc. Trong khi Đại
Chưởng ấn kéo cái quần dài đen lên, ông tự nhắc nhở mình đã tăng
thêm vài cân kể từ khi nhậm chức. Tiếp đó, East giúp ông mặc
chiếc áo thụng dài màu đen và vàng trước khi chuyển sự chú ý
sang đầu và bàn chân ông chủ. Một bộ tóc giả che kín gáy được đội
lên đầu ông trước khi ông xỏ chân vào đôi giày có cài khóa. Chỉ sau
khi sợi dây chuyền vàng chức tước từng được ba mươi chín vị Đại
Chưởng ấn trước đó đeo đã nằm trên vai, ông mới từ bộ dạng một
vai quý bà cáu bẳn trên sân khấu kịch câm chuyển thành quan chức
tư pháp có quyền lực lớn nhất ở quốc gia này. Một cái liếc mắt vào
gương, và ông cảm thấy đã sẵn sàng để bước lên sân khấu diễn
vai của mình trong vở diễn đầy kịch tính đang được công diễn. Chỉ
tiếc một điều là ông vẫn chưa biết lời thoại sẽ thế nào.
Việc căn thời gian cho Đại Chưởng ấn đi vào và ra khỏi tòa tháp
Bắc cung điện Westminster hẳn có thể khiến một thượng sĩ nhất
của trung đoàn phải thấy ấn tượng. Vào lúc 9 giờ 40 phút sáng, có
một tiếng gõ cửa và David Bartholomew, thư ký của vị đại thần,
bước vào phòng.
“Chúc buổi sáng tốt lành, thưa ngài,” ông ta mở lời.
“Chúc buổi sáng tốt lành, ông Bartholomew,” Đại Chưởng ấn
chào lại.
“Tôi rất tiếc phải thông báo,” Bartholomew nói, “là Lord Harvey
đã qua đời tối qua, trong một chiếc xe cứu thương trên đường tới
bệnh viện.”
Cả hai người đều biết điều đó không đúng. Lord Harvey – ông
ngoại của Giles và Emma Barrington – đã gục xuống ngay trong
phòng họp, chỉ giây lát trước khi chuông báo giờ bỏ phiếu vang lên.
Tuy thế, họ cùng chấp nhận một quy tắc đã được thừa nhận từ lâu
đời: nếu một thành viên của Hạ viện hay Thượng viện mất trong
phiên họp của Viện, bắt buộc phải thực hiện một cuộc điều tra đầy
đủ về hoàn cảnh dẫn tới cái chết. Để tránh màn kịch vừa chẳng vui
vẻ gì vừa không cần thiết đó, “chết trên đường tới bệnh viện” là
cách diễn đạt được chấp nhận để áp dụng trong những trường hợp
như thế. Phong tục này đã có từ thời Oliver Cromwell⁜, khi các
nghệ sĩ còn được phép đeo kiếm vào phòng họp, và những hành
động gian trá phản phúc là một khả năng nổi bật phải xem xét đến
bất cứ khi nào có một cái chết xảy ra.
Đại Chưởng ấn không khỏi buồn bã trước sự ra đi của Lord
Harvey, một đồng nghiệp mà ông vừa yêu mến vừa ngưỡng mộ.
Ông chỉ ước rằng người thư ký không nhắc làm ông nhớ tới một
trong những thực tế ông đã ghi lại phía dưới tên của Giles
Barrington; cụ thể là Lord Harvey đã không thể bỏ phiếu sau khi ông
ấy bị quỵ xuống, và nếu ông ấy kịp bỏ phiếu, chắc chắn sẽ là cho
Giles Barrington. Điều đó hẳn đã cho phép mọi việc được giải quyết
ổn thỏa một lần dứt khoát, và tối hôm đó ông đã có thể ngủ ngon.
Còn giờ đây, chính ông đang được trông đợi sẽ giải quyết ổn thỏa
vấn đề này một lần dứt khoát.
Phía dưới tên của Harry Clifton, ông đã ghi một thực tế khác.
Sáu tháng trước, khi yêu cầu ban đầu được đệ trình lên Hội đồng tư
pháp, các thành viên đã bỏ phiếu với kết quả 4—3 nghiêng về việc
cho phép Clifton được thừa kế tước vị và, như được viết trong di
chúc, tất cả những gì đi kèm.
Một tiếng gõ cửa thứ hai, và người tùy giá của ông xuất hiện,
mặc bộ đồ kiểu Gilbert và Sullivan nữa, để báo hiệu nghi thức cổ
xưa sắp bắt đầu.
“Chúc buổi sáng tốt lành, thưa ngài.”
“Chúc buổi sáng tốt lành, ông Duncan.”
Đúng khoảnh khắc người tùy giá nâng diềm chiếc áo thụng đen
dài của Đại Chưởng ấn lên, David Bartholomew bước tới mở toang
hai cánh cửa phòng khánh tiết để vị đại thần có thể bắt đầu cuộc
hành trình kéo dài bảy phút tới phòng họp Thượng viện.
Các thành viên quốc hội, người đưa tin có đeo phù hiệu và
những nhân viên làm việc tại quốc hội đang thực hiện công việc
hàng ngày của họ hối hả đứng tránh sang bên khi thấy Đại Chưởng
ấn tới gần, đảm bảo để cuộc hành trình của ông không bị cản trở.
Khi ông đi ngang qua, họ cúi chào thật thấp, không phải trước ông,
mà trước quyền lực ông đại diện. Vị đại thần bước đi theo hành
lang trải thảm đỏ theo cùng nhịp chân như ông vẫn đi mỗi ngày
trong sáu năm qua, để ông bước vào phòng họp cùng thời điểm
tiếng chuông đầu tiên vang lên khi Big Ben điểm chuông mười giờ
sáng.
Vào một ngày bình thường, và hôm nay không phải là một ngày
như thế, bất cứ lúc nào bước vào phòng họp, ông cũng sẽ được
chào đón bởi một nhúm các nghị sĩ lịch thiệp đứng lên từ các băng
ghế đỏ, cúi đầu trước Đại Chưởng ấn và tiếp tục đứng trong khi vị
giám mục trực ban điều hành lễ cầu nguyện buổi sáng, sau đó
những công việc trong ngày có thể bắt đầu.
Nhưng hôm nay thì không, vì từ rất xa trước khi tới phòng họp,
ông đã có thể nghe thấy tiếng rì rầm của những giọng nói đang khe
khẽ trao đổi. Thậm chí cả Đại Chưởng ấn cũng phải ngạc nhiên
trước cảnh tượng chờ đợi mình khi ông bước vào. Các băng ghế đỏ
kín người, đến mức một số nghị sĩ phải di cư đến chỗ các bậc cấp
phía trước ngai chủ tọa, trong khi có những người khác đứng ngoài
lan can của Viện vì không tìm nổi chỗ ngồi. Một dịp duy nhất ông
nhớ Viện từng đông đến thế này là khi Nhà vua đọc Diễn văn Hoàng
gia, trong đó thông báo cho các thành viên của cả hai Viện về
những đạo luật chính phủ ngài đề xuất ban hành trong nhiệm kỳ tiếp
theo của Quốc hội.
Khi Đại Chưởng ấn bước vào phòng họp, các nghị sĩ lập tức
ngừng nói chuyện, đồng loạt đứng dậy và cúi chào trong khi ông
ngồi vào chỗ trước ghế Chủ tịch Thượng viện.
Quan chức tư pháp cao cấp nhất của đất nước từ tốn đưa mắt
nhìn quanh phòng họp và bắt gặp cả nghìn con mắt đang nóng lòng
chờ đợi. Ánh mắt của ông cuối cùng dừng lại ở ba người trẻ tuổi
đang ngồi phía cuối phòng họp, đối diện với ông trên Khu vực dành
cho Khách quan trọng. Giles Barrington, em gái Emma của anh và
Harry Clifton đều mặc đồ tang màu đen để tưởng nhớ tới người ông
rất được yêu quý và, trong trường hợp của Harry, một người bảo
trợ và người bạn thân thiết. Ông thấy thông cảm cho cả ba người, ý
thức được phán quyết ông sắp đưa ra sẽ làm thay đổi toàn bộ cuộc
đời họ. Ông cầu nguyện để sự thay đổi đó sẽ theo hướng tốt đẹp
hơn.
Khi mục sư Peter Watts, giám mục Bristol – thật hợp cảnh làm
sao, Đại Chưởng ấn nghĩ – mở cuốn kinh cầu nguyện của ông ta ra,
các nghị sĩ cùng cúi đầu xuống, và không ngẩng lên cho tới khi ngài
giám mục nói ra những từ “Nhân danh Cha, Con và Thánh Thần.”
Những người có mặt ngồi lại xuống chỗ, chỉ còn lại Đại Chưởng
ấn là người duy nhất còn đứng. Sau khi mọi người đã yên vị, các
nghị sĩ chờ đợi nghe phán quyết của ông.
“Thưa quý vị,” ông bắt đầu, “tôi không thể giả bộ rằng phán
quyết mà quý vị đặt niềm tin vào tôi là một chuyện dễ dàng. Ngược
lại, tôi thú nhận đây là một trong những quyết định khó khăn nhất tôi
từng phải đưa ra trong sự nghiệp phụng sự pháp luật lâu năm của
mình. Nhưng vậy đấy, Thomas More⁜ chính là người đã nhắc nhở
chúng ta rằng khi ta mặc lên người chiếc áo thụng này, ta cần sẵn
sàng đưa ra những quyết định hiếm khi làm vừa lòng tất cả mọi
người. Và quả thực, thưa quý vị, vào ba dịp như thế trong quá khứ,
vị Đại Chưởng ấn, sau khi đưa ra phán quyết của ông ta, đã bị chặt
đầu trong cùng ngày.”
Tiếng cười vang lên phá vỡ sự căng thẳng, nhưng chỉ trong giây
lát.
“Tuy nhiên, bổn phận của tôi vẫn là nhớ rằng,” ông nói sau khi
tiếng cười lắng xuống, “tôi chỉ phải giải thích trước Đấng Toàn
Năng. Với ý thức đó trong tâm trí, thưa quý vị, trong vụ tranh tụng
Barrington chống lại Clifton, người được kế tục Sir Hugo Barrington
với tư cách người thừa kế hợp pháp và được trao cho tước vị của
gia đình, lãnh địa và tất cả những gì đi kèm là…”
Đại Chưởng ấn lại một lần nữa đưa mắt nhìn lên khu vực khách
mời, do dự. Đôi mắt ông dừng lại ở ba con người trẻ trung vô tội
ngồi trên hàng ghế, lúc này đang chăm chú nhìn xuống ông. Ông
cầu nguyện có được sự thông thái của Solomon trước khi nói thêm,
“Sau khi cân nhắc tất cả các sự kiện thực tế, tôi quyết định dành
quyền thừa kế cho… Giles Barrington.”
Âm thanh rì rầm của những giọng nói đang thì thầm lập tức vang
lên trong Viện. Đám nhà báo hối hả rời khỏi khu báo chí để thông
báo phán quyết Đại Chưởng ấn vừa đưa ra tới các biên tập đang
chờ đợi, phán quyết cho thấy nguyên tắc thừa kế thế tập vẫn được
giữ nguyên vẹn và Harry Clifton giờ đây có thể cầu hôn Emma
Barrington để cô trở thành người vợ hợp pháp của anh. Đám đông
trên khu vực khách mời cúi xuống qua lan can để quan sát xem các
nghị sĩ phản ứng thế nào với phán quyết vừa rồi. Nhưng đây không
phải là một trận bóng đá, và ông không phải là trọng tài. Tất cả các
thành viên Thượng viện sẽ phải chấp nhận và tuân thủ phán quyết
của Đại Chưởng ấn mà không được bỏ phiếu biểu quyết hay phủ
quyết. Trong khi đợi cho cơn xúc động lắng xuống, Đại Chưởng ấn
lại một lần nữa ngước mắt nhìn lên ba con người trên lan can chịu
ảnh hưởng lớn nhất từ quyết định của mình để xem họ phản ứng
thế nào. Harry, Emma và Giles vẫn nhìn ông vô cảm, như thể họ
vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa phán quyết của ông.
Sau nhiều tháng trời sống trong bất an, Giles lập tức cảm thấy
nhẹ nhõm, cho dù cái chết của người ông ngoại yêu quý đã xua đi
mọi cảm giác chiến thắng.
Harry chỉ có một ý nghĩ duy nhất trong đầu khi nắm chặt tay
Emma. Giờ anh đã có thể cưới cô gái anh yêu.
Emma vẫn cảm thấy không chắc chắn. Nói cho cùng, Đại
Chưởng ấn đã tạo nên một loạt những vấn đề mới khiến ba người
họ phải bận tâm suy nghĩ, những vấn đề họ không thể gọi ông tới
để giải quyết.
Đại Chưởng ấn mở cặp tài liệu có trang trí tua vàng của mình ra
và nhìn qua nội dung chương trình nghị sự trong ngày. Một cuộc
tranh luận về Chương trình Sức khỏe Quốc gia đang được đề xuất
ở mục thứ hai. Một vài nghị sĩ lặng lẽ rời phòng họp, vì công việc đã
trở lại như thường nhật.
Đại Chưởng ấn sẽ không bao giờ thú nhận với bất cứ ai, thậm
chí cả người tâm giao gần gũi nhất, việc ông đã thay đổi quyết định
vào phút cuối cùng.
Harry Clifton
và
Emma Barrington
1945 – 1951
1
“V khiến hai con người này không thể được kết hợp với nhau
ậy nên, nếu ai đó có thể đưa ra bất cứ lý do chính đáng nào
một cách hợp pháp trong mối ràng buộc thiêng liêng của hôn nhân,
người ấy hãy nói ra ngay lúc này, hoặc giữ im lặng mãi mãi về sau.”
Harry Clifton sẽ không bao giờ quên được lần đầu tiên anh nghe
những lời đó, cũng như chỉ vài khoảnh khắc sau đó cả cuộc đời anh
bị đảo lộn hoàn toàn. Jack Già, người cũng giống như George
Washington không bao giờ có thể nói dối, đã tiết lộ trong một cuộc
gặp vội vã trong phòng thay áo lễ rằng rất có thể Emma Barrington,
cô gái Harry tôn thờ, người sắp sửa trở thành vợ anh, là em gái
cùng cha khác mẹ với anh.
Và cơn ác mộng đã biến thành hiện thực khi mẹ Harry thừa
nhận rằng có một lần, một lần duy nhất, bà từng quan hệ tình dục
với bố Emma, Hugo Barrington. Do đó, có khả năng anh và Emma
là con của cùng một người cha.
Vào thời điểm có quan hệ với Hugo Barrington, mẹ Harry đang
hẹn hò cùng Arthur Clifton, một công nhân bốc vác làm việc tại bến
tàu của công ty Barrington. Bất chấp thực tế Maisie đã kết hôn với
Arthur không lâu sau đó, vị giáo sĩ từ chối làm phép cưới cho Harry
và Emma khi vẫn còn khả năng bỏ ngỏ rằng việc đó có thể vi phạm
điều luật cổ xưa của nhà thờ về quan hệ huyết thống.
Chỉ giây lát sau, Hugo, bố Emma, đã lẻn ra đằng sau nhà thờ,
giống một kẻ đào ngũ hèn nhát chạy trốn khỏi chiến trường. Emma
và mẹ cô tới Scotland, trong khi Harry, với tâm hồn tan nát, ở lại
trường tại Oxford, không biết phải làm gì tiếp theo. Adolf Hitler đã
đưa ra quyết định đó giúp chàng trai.
Vài ngày sau, Harry rời trường đại học và đổi chiếc áo thụng học
đường lấy bộ đồ của một thủy thủ thường. Nhưng chỉ sau chưa đầy
hai tuần anh phục vụ trên đại dương, một quả ngư lôi Đức đã bắn
chìm con tàu của anh, và cái tên Harry Clifton xuất hiện trong danh
sách những người được thông báo mất tích ngoài biển.
“Con có đồng ý lấy người phụ nữ này làm vợ, có đồng ý sẽ luôn
ở bên cô ấy chừng nào cả hai con còn sống hay không?”
“Con đồng ý.”
Mãi tới tận khi chiến tranh kết thúc, khi Harry từ chiến trường trở
về mang theo vết thương của vinh quang, anh mới khám phá ra
Emma đã sinh một cậu con trai của hai người, Sebastian Arthur
Clifton. Nhưng phải tới khi hoàn toàn bình phục, Harry mới biết
Hugo Barrington đã bị giết trong một hoàn cảnh thật khủng khiếp,
khiến gia đình Barrington gặp thêm nhiều rắc rối nữa, cũng kinh
khủng với Harry không kém gì việc không được phép kết hôn với cô
gái anh yêu.
Harry chưa bao giờ nghĩ việc anh lớn tuổi hơn vài tuần so với
Giles Barrington, anh trai Emma và cũng là người bạn thân nhất của
anh, là chuyện gì nghiêm trọng cho tới khi được biết anh có thể là
người đứng đầu trong danh sách thừa kế tước vị gia đình, lãnh địa
rộng lớn của nhà Barrington, rất nhiều tài sản sở hữu cũng như,
theo như từ ngữ trong bản di chúc, tất cả những gì đi kèm. Harry
nhanh chóng tỏ rõ anh không có chút hứng thú nào với việc thừa kế
gia sản nhà Barrington, và còn hơn cả sẵn sàng để từ chối bất cứ
quyền lợi bẩm sinh nào có thể được coi là của anh để nhường lại
cho Giles. Vị Chánh đại thần Nghi lễ dường như sẵn sàng thuận
theo cách thu xếp này, và tất cả đáng ra đã có thể xuôi chèo mát
mái nếu như Lord Preston, một nghị sĩ đối lập Công đảng, không
đích thân đứng ra bảo vệ tư cách thừa kế của Harry mà thậm chí
chẳng buồn hỏi ý kiến anh.
“Đó là một vấn đề mang tính nguyên tắc,” Lord Preston giải thích
với bất cứ ký giả Nghị viện nào đặt câu hỏi cho ông ta.
“Con có đồng ý nhận người đàn ông này làm chồng, đồng ý sống
bên nhau theo giới luật của Chúa trong mối ràng buộc thiêng liêng
của hôn nhân không?”
“Con đồng ý.”
Harry và Giles vẫn là những người bạn không thể tách rời trong
suốt quãng thời gian ấy, bất chấp việc một cách chính thức họ ở hai
bên tranh chấp với nhau tại tòa án cao nhất quốc gia, cũng như trên
trang nhất báo chí cả nước.
Harry và Giles hẳn sẽ rất vui mừng trước quyết định của Đại
Chưởng ấn nếu như Lord Harvey, ông ngoại Emma và Giles, có mặt
trên băng ghế hàng đầu để nghe lời phán quyết, nhưng ông đã
không bao giờ biết được thắng lợi của mình. Kết cục của vụ việc
vẫn làm cả nước bị chia rẽ, trong khi hai gia đình bị để mặc cho việc
thu xếp tàn cục.
Một hệ quả nữa từ phán quyết của Đại Chưởng ấn, như báo giới
đã nhanh chóng chỉ ra cho các độc giả đầy háo hức của họ, là việc
tòa án tối cao của đất nước công nhận Harry và Emma không có
chung huyết thống, do đó anh được tự do cầu hôn cô, để cô trở
thành người vợ được kết hôn hợp pháp của anh.
“Với chiếc nhẫn này tôi cưới người, với thân thể của mình tôi tôn
thờ người, và mọi của cải trần thế của mình tôi trao cho người.”
Dẫu vậy, cả Harry và Emma đều biết một quyết định do con
người đưa ra không thể chứng minh nghi ngờ có căn cứ rằng Hugo
Barrington là bố Harry, vì thế cả hai, đều là những tín đồ Ki tô ngoan
đạo, lo sợ rằng có thể họ đang vi phạm giới luật của Chúa.
Tình yêu họ dành cho nhau không hề phai nhạt bất chấp tất cả
những gì họ phải trải qua. Nếu có gì thay đổi, thì đó là nó đã trở nên
mạnh mẽ hơn, và với sự cổ vũ của Elizabeth, mẹ cô gái, cùng lời
ban phước của Maisie, mẹ Harry, Emma chấp nhận đề nghị kết hôn
của Harry. Cô chỉ thấy buồn vì cả hai người bà của mình đều đã qua
đời.
Hôn lễ không diễn ra tại Oxford như dự định ban đầu, với tất cả
sự phô trương và những nghi thức long trọng cho một đám cưới tại
trường đại học, cũng như sự nhòm ngó không thể tránh khỏi của
giới truyền thông. Nó chỉ là một lễ đăng ký kết hôn đơn giản trong
văn phòng tại Bristol, với gia đình và vài người bạn thân tham dự.
Có lẽ quyết định đáng buồn nhất mà Harry và Emma phải miễn
cưỡng nhất trí là việc Sebastian Arthur Clifton sẽ là đứa con duy
nhất của hai người.
2
S tới Scotland để trải qua kỳ trăng mật tại lâu đài Mulgelrie, nơi này
au khi gửi Sebastian cho Elizabeth trông nom, Harry và Emma
được truyền lại từ tổ tiên của Lord Harvey và phu nhân Harvey, ông
bà ngoại quá cố của Emma.
Tòa lâu đài làm sống dậy bao hồi ức hạnh phúc về quãng thời
gian họ trải qua tại đây ngay trước khi Harry tới Oxford. Hai người
cùng đi dạo cả ngày trên các ngọn đồi, hiếm khi quay về lâu đài
trước khi mặt trời lặn sau ngọn núi cao nhất. Sau bữa tối, người đầu
bếp nhớ lại rằng cậu Clifton thích được phục vụ ba lần món canh
hầm, hai vợ chồng ngồi bên lò sưởi cháy bùng bùng và đọc Evelyn
Waugh, Graham Greene và tác giả ưa thích của Harry, P. G.
Wodehouse.
Sau nửa tháng, quãng thời gian mà đôi vợ chồng trẻ gặp gỡ
những bầy gia súc miền Highland còn nhiều hơn là con người, họ
miễn cưỡng lên đường trở lại Bristol. Hai người về tới Manor
House, trông đợi một cuộc sống gia đình yên bình, song thứ chờ
đợi họ lại không phải là điều đó.
Elizabeth thú nhận bà không thể đợi lâu hơn được nữa để giao
lại Sebastian; những màn khóc lóc trước khi lên giường đi ngủ xuất
hiện quá nhiều lần, bà nói với hai con khi con mèo Xiêm của bà,
Cleopatra, trèo lên lòng bà chủ của nó và lập tức ngủ ngon lành.
“Chân thành mà nói, các con không về sớm giây nào cả,” bà thêm.
“Trong hai tuần vừa qua mẹ chưa từng một lần giải xong ô chữ trên
The Times.”
Harry cảm ơn mẹ vợ vì sự thấu hiểu của bà, rồi anh và Emma
mang cậu con trai năm tuổi hiếu động kinh khủng của họ về
Barrington Hall.
N
Trước khi Harry và Emma kết hôn, Giles một mực quả quyết rằng vì
anh dành phần lớn thời gian của mình tại London thực thi chức
trách của một dân biểu Công đảng tại Quốc hội, nên hai người cứ
thoải mái coi Barrington Hall như nhà mình. Với thư viện mười
nghìn cuốn sách, một khu tư viên rộng mênh mông và một tàu ngựa
phong phú, tòa dinh thự hoàn toàn lý tưởng với họ. Harry có thể viết
những cuốn tiểu thuyết trinh thám về William Warwick trong không
khí yên bình, trong khi Emma cưỡi ngựa đi dạo hàng ngày và
Sebastian chơi ngoài khoảng sân rộng, thường xuyên mang những
con vật lạ lùng về nhà cùng uống trà.
Giles thường lái xe về Bristol vào các buổi chiều thứ Sáu, vừa
kịp để ăn tối cùng họ. Đến sáng thứ Bảy, anh sẽ dành thời gian cho
một cuộc tiếp cử tri trước khi ghé vào câu lạc bộ công nhân bến tàu
để uống một, hai vại bia với người đại diện của anh, Griff Haskins.
Đến chiều, ngài dân biểu và Griff sẽ tham gia cùng mười ngàn
người trong số cử tri của anh tại sân vận động Eastville để theo dõi
đội Bristol Rovers⁜ thua trận nhiều hơn là thắng. Giles không bao
giờ dám thừa nhận, thậm chí cả với người đại diện của mình, là anh
thà dành các chiều thứ Bảy đi xem đội Bristol chơi rugby còn hơn.
Song nếu anh làm vậy, Griff hẳn sẽ nhắc nhở rằng đám đông có
mặt tại sân Memorial Ground hiếm khi đông hơn hai nghìn người,
và phần lớn họ bầu cho đảng Bảo thủ.
Vào các sáng Chủ nhật, Giles lại có mặt tại nhà thờ St. Mary
Redcliffe để quỳ gối cầu nguyện bên cạnh Harry và Emma. Harry
đoán với Giles đây chỉ đơn thuần là một nghĩa vụ với cử tri khác, vì
ông bạn này luôn tìm bất cứ cớ nào để tránh xa nhà nguyện khi còn
ở trường. Nhưng không ai có thể phủ nhận rằng Giles đang nhanh
chóng đạt được tiếng tăm là một thành viên tận tâm, mẫn cán của
Quốc hội.
Thế rồi đột nhiên, không lời giải thích, những cuộc về thăm vào
dịp cuối tuần của Giles trở nên ngày một thưa thớt. Bất cứ khi nào
Emma nhắc tới chủ đề này với anh trai, câu trả lời lại là về những
trách nhiệm tại Quốc hội. Harry không hề cảm thấy bị thuyết phục,
và hy vọng việc vắng mặt kéo dài ở khu vực bầu cử của ông anh vợ
sẽ không làm xói mòn đa số mong manh ngài dân biểu đang có
trong kỳ bầu cử tới.
Một tối thứ Sáu, hai người cuối cùng cũng khám phá ra lý do
thực sự khiến Giles bận bịu đến thế trong vài tháng qua.
Anh đã gọi điện báo trước cho Emma là sẽ về Bristol dịp cuối
tuần, và sẽ về đúng giờ để ăn tối hôm thứ Sáu. Điều ông anh không
nói với cô em là sẽ có một vị khách nữa cùng tham gia.
Emma thường luôn có cảm tình với các cô bạn gái của Giles, họ
luôn hấp dẫn, hơi đãng trí một chút, và tất cả, không có ngoại lệ,
đều tôn thờ anh trai cô, cho dù phần lớn những người đẹp này
không trụ lại đủ lâu để cô có thể hiểu rõ hơn về họ. Song lần này thì
khác.
Tối thứ Sáu đó, khi Giles giới thiệu Virginia, Emma thực sự bối
rối không hiểu anh cô thấy gì ở người phụ nữ này. Emma thừa nhận
cô này rất đẹp và có gia thế danh tiếng. Trên thực tế, Virginia đã
hơn một lần nhắc nhở họ rằng cô ta từng là Quý cô của năm (vào
năm 1934), cũng như nhắc đi nhắc lại ba lần chuyện cô ta là con gái
của bá tước Fenwick, thậm chí từ trước khi họ kịp ngồi vào bàn
dùng bữa tối.
Emma hẳn đã gạt những chuyện này sang một bên, coi đó chỉ là
do vị khách đang hồi hộp, nếu Virginia không chê bai đồ ăn và thì
thầm với Giles suốt bữa tối, với âm lượng chắc hẳn cô ta phải biết
những người khác đều sẽ nghe thấy, về chuyện thật khó lòng tìm
được người làm tử tế ở Gloucestershire. Trước sự ngạc nhiên của
Emma, Giles chỉ mỉm cười với những lời nhận xét đó, không hề tỏ
ra bất đồng với cô ta dù chỉ một lần. Emma sắp sửa nói ra một điều
mà cô biết sau đó mình sẽ phải hối tiếc thì Virginia tuyên bố cô ta đã
kiệt sức sau một ngày dài và muốn đi nghỉ.
Sau khi vị khách đã đứng lên rời khỏi bàn ăn, với Giles theo sát
chỉ cách một bước chân, Emma vào phòng khách, rót cho mình một
cốc whisky lớn và ngồi xuống cái ghế gần nhất.
“Có Chúa mới biết mẹ em sẽ thấy thế nào về Quý cô Virginia.”
Harry mỉm cười. “Việc Elizabeth nghĩ gì cũng chẳng quan trọng,
vì anh có cảm giác Virginia sẽ trụ lại cũng lâu như phần lớn những
cô bạn gái khác của Giles.”
“Em không chắc vậy đâu,” Emma nói. “Nhưng điều làm em khó
hiểu nhất là tại sao cô ta lại quan tâm đến Giles, vì rõ ràng cô ta
không hề yêu anh ấy.”
N
Khi Giles và Virginia lái xe trở về London sau bữa trưa vào buổi
chiều Chủ nhật, Emma nhanh chóng quên cô con gái bá tước
Fenwick vì cô cần phải giải quyết một vấn đề khẩn cấp hơn rất
nhiều. Lại thêm một cô bảo mẫu nữa xin thôi việc, tuyên bố giọt
nước cuối cùng đã tràn ly khi cô này tìm thấy một con nhím trên
giường mình. Harry ít nhiều cảm thấy thông cảm với người phụ nữ
tội nghiệp.
“Việc thằng bé là con một chẳng giúp tình hình khá hơn.” Emma
nói sau khi cuối cùng cô cũng đã ru ngủ được cậu con trai tối hôm
đó. “Chẳng thể vui được khi không có ai để chơi cùng.”
“Việc đó chưa bao giờ làm anh lo lắng.” Harry nói, vẫn không
ngước mắt lên khỏi cuốn sách.
“Mẹ anh đã kể cho em biết anh cũng chẳng vừa trước khi anh
tới trường St. Bede, và dù thế nào đi nữa, ở vào tuổi của nó, anh
dành nhiều thời gian ngoài bến tàu hơn ở nhà.”
“Được thôi, cũng chẳng còn mấy nữa trước khi thằng bé bắt đầu
học tại St. Bede.”
“Và anh trông đợi em làm gì cho tới lúc đó? Đưa con chúng ta ra
bến tàu mỗi sáng à?”
“Một ý tưởng không tồi.”
“Nghiêm túc đi nào, anh yêu. Nếu không nhờ Jack Già, bây giờ
có khi anh vẫn đang ở ngoài đó.”
“Đúng thế,” Harry nói trong khi nâng ly lên tưởng nhớ con người
vĩ đại ấy. “Nhưng chúng ta có thể làm gì trong chuyện này?”
Emma mất nhiều thời gian để trả lời đến mức Harry tự hỏi liệu
có phải cô đã ngủ. “Có lẽ đã đến lúc chúng mình cần có một đứa trẻ
nữa.”
Harry kinh ngạc gập cuốn sách lại và chăm chú nhìn vợ, không
dám chắc anh đã nghe chính xác những gì cô nói. “Nhưng anh
tưởng chúng mình đã nhất trí…”
“Đúng thế. Và em vẫn không hề đổi ý, nhưng chẳng có lý do nào
ngăn cản chúng ta nghĩ đến việc nhận con nuôi cả.”
“Điều gì đã làm em nghĩ đến chuyện đó vậy, em yêu?”
“Em không thể ngừng nghĩ tới cô bé được tìm thấy trong phòng
làm việc của bố vào đêm ông chết.” – Emma không bao giờ có thể
ép mình nói ra hai từ “bị giết” – “và khả năng cô bé đó có thể là con
của ông.”
“Nhưng chẳng có bằng chứng nào về chuyện đó cả. Và dù thế đi
nữa, anh không biết làm thế nào em có thể tìm ra cô bé sau chừng
ấy thời gian.”
“Em đang nghĩ tới việc tham khảo một nhà văn viết truyện trinh
thám danh tiếng để tìm lời khuyên.”
Harry cẩn thận suy nghĩ trước khi trả lời. “William Warwick rất có
khả năng sẽ đưa ra lời khuyên rằng em nên thử liên hệ với Derek
Mitchell.”
“Nhưng chắc anh không quên Mitchell từng làm việc cho bố em,
và không hẳn là quan tâm đến lợi ích của chúng ta.”
“Đúng thế,” Harry nói, “và đó chính xác là lý do anh sẽ tìm kiếm
lời khuyên của ông ta. Nói cho cùng, ông ta là người duy nhất biết
nội tình câu chuyện.”
N
Họ nhất trí sẽ gặp nhau ở khách sạn Grand. Emma tới sớm và chọn
một chỗ ngồi trong góc sảnh, nơi họ không thể bị nghe lén. Trong
lúc chờ, cô soát lại những câu dự định sẽ hỏi người thám tử.
Ông Mitchell bước vào sảnh khi đồng hồ đổ chuông bốn giờ.
Cho dù ông ta đã lên cân ít nhiều kể từ lần cuối cô gặp, và mái tóc
cũ...
B
ig Ben đổ chuông bốn tiếng.
Mặc dù đã kiệt sức bởi những gì diễn ra tối hôm đó, nhưng
vẫn còn đủ chất kích thích được bơm đi khắp cơ thể khiến vị Đại
Chưởng ấn hầu như không thể ngủ nổi. Ông đã cam đoan với các
thành viên Thượng viện sẽ đưa ra một phán quyết cho vụ tranh
tụng của Barrington chống lại Clifton về vấn đề thừa kế tước hiệu
lâu đời và tài sản khổng lồ của gia tộc.
Thêm một lần nữa, ông cân nhắc các sự kiện thực tế, vì ông tin
vào chúng, và chỉ có chúng được phép quyết định phán quyết cuối
cùng của ông.
Khoảng bốn mươi năm về trước, khi ông bắt đầu tập sự, người
hướng dẫn đã khuyên ông phải loại bỏ mọi cảm xúc hay thiên kiến
cá nhân khi cần đưa ra một phán quyết về thân chủ hay về vụ tranh
tụng đang diễn ra trước mắt. Ngành luật không phải là ngành dành
cho những kẻ có trái tim yếu đuối hay lãng mạn, sư phụ của ông đã
nhấn mạnh như thế. Tuy vậy, sau khi tuân thủ tôn chỉ này trong bốn
thập kỷ, ngài Đại Chưởng ấn buộc phải thừa nhận ông chưa bao
giờ gặp phải một vụ việc cân bằng đến mức gần như tuyệt đối thế
này. Ông chỉ ước gì F. E. Smith⁜ vẫn còn sống để ông có thể tìm
kiếm lời khuyên từ sư phụ của mình.
Một mặt… ông căm ghét những lời lẽ sáo mòn này biết chừng
nào. Một mặt, Harry Clifton đã ra đời sớm hơn ba tuần so với người
bạn thân nhất của anh ta, Giles Barrington: đó là thực tế. Mặt khác,
Giles Barrington, không nghi ngờ gì nữa, là con trai chính thức của
Sir Hugo Barrington và người vợ kết hôn hợp pháp của ông ta,
Elizabeth: đó là một thực tế nữa. Nhưng điều đó vẫn không làm
chàng trai trở thành người con được ra đời sớm nhất của Sir Hugo,
và đó là điểm mấu chốt của bản di chúc.
Một mặt, Maisie Tancock sinh Harry vào ngày thứ 28 của tháng
thứ chín sau khi bà ta thừa nhận đã có quan hệ tình dục với Sir
Hugo Barrington khi họ tham gia chuyến dã ngoại dành cho công
nhân tới Weston-super-Mare⁜. Thêm một thực tế. Mặt khác, Maisie
Tancock đã kết hôn với Arthur Clifton khi Harry ra đời, và giấy khai
sinh khẳng định rõ ràng Arthur là bố đứa trẻ. Một thực tế khác.
Một mặt… Dòng suy nghĩ của Đại Chưởng ấn quay trở lại
những gì đã diễn ra trong phòng họp sau khi Viện cuối cùng cũng
thực hiện biểu quyết để quyết định xem Giles Barrington hay Harry
Clifton nên được thừa kế tước vị và tất cả những gì đi kèm. Ông
nhớ lại chính xác những lời của người phụ trách kiểm phiếu khi
công bố kết quả trước Thượng viện đông kín.
“Đồng ý ở bên phải, hai trăm bảy mươi ba phiếu. Không đồng ý
ở bên trái, hai trăm bảy mươi ba phiếu.”
Những tiếng xôn xao ồn ã vang lên khắp các băng ghế đỏ⁜.
Ông chấp nhận việc kết quả bỏ phiếu cân bằng sẽ buộc ông phải
đảm nhận trách nhiệm không hề mong muốn là đưa ra quyết định ai
là người được thừa kế tước vị của gia đình Barrington, công ty hàng
hải danh tiếng, cũng như mọi tài sản, đất đai, vật sở hữu có giá trị.
Giá như không có nhiều thứ đến vậy gắn liền với quyết định của
ông khi tính đến tương lai của hai người đàn ông trẻ tuổi. Liệu ông
có nên chịu ảnh hưởng bởi thực tế Giles Barrington muốn được
thừa kế tước vị còn Harry Clifton thì không? Không, ông không
được làm thế. Như Lord Preston đã chỉ ra trong bài diễn thuyết đầy
sức thuyết phục của ông ta từ băng ghế phe đối lập, rằng như thế
sẽ tạo ra một tiền lệ xấu, cho dù nó thật tiện lợi.
Một mặt, nếu ông thực sự ra phán quyết có lợi cho Harry… cuối
cùng ông ngủ thiếp đi, để rồi bị đánh thức bởi một tiếng gõ cửa khe
khẽ vào lúc bảy giờ, một thời điểm muộn bất thường. Ông rên lên,
đôi mắt vẫn nhắm trong khi đếm từng tiếng chuông của Big Ben.
Chỉ còn ba giờ đồng hồ nữa trước khi ông phải đưa ra phán quyết,
và ông vẫn chưa đi được tới quyết định.
Đại Chưởng ấn rên lên lần thứ hai khi ông đặt chân xuống sàn,
xỏ dép vào và đi sang phòng tắm. Thậm chí lúc ngồi trong bồn tắm,
ông vẫn tiếp tục đánh vật với vấn đề.
Thực tế. Harry Clifton và Giles Barrington đều bị mù màu, giống
như Sir Hugo. Thực tế. Bệnh mù màu chỉ có thể di truyền từ mẹ,
vậy nên đây chỉ đơn thuần là trùng hợp ngẫu nhiên, và cần được
loại bỏ trên đúng cơ sở đó.
Ông ra khỏi bồn tắm, lau khô người, khoác lên mình một chiếc
áo mặc trong nhà. Sau đó, ông ra khỏi phòng ngủ, đi theo hành lang
trải thảm dày tới phòng làm việc của mình.
Đại Chưởng ấn cầm một cây bút máy và viết hai cái họ
“Barrington” và “Clifton” lên đầu một trang giấy, phía dưới ông bắt
đầu liệt kê những ưu thế và yếu thế của từng người. Cho tới khi ông
viết kín ba trang giấy với thứ chữ gọn ghẽ như bản khắc đồng của
mình, Big Ben đã đánh tám tiếng chuông. Song ông vẫn chẳng sáng
suốt được thêm chút nào.
Ông đặt bút xuống và miễn cưỡng đi ăn sáng.
Đại Chưởng ấn ngồi một mình, lặng lẽ dùng bữa sáng. Thậm chí
ông không để mắt tới những số báo ra buổi sáng được xếp ngay
ngắn ở bên đầu bàn, cũng không bật máy thu thanh lên, vì ông
không muốn một bình luận viên không được thông tin đầy đủ nào
đó làm ảnh hưởng đến phán quyết của mình. Những tờ báo nghiêm
túc tập trung vào tương lai của nguyên tắc thừa kế thế tập nếu Đại
Chưởng ấn phán quyết có lợi cho Harry, trong khi các tờ lá cải
dường như chỉ bận tâm đến chuyện liệu Emma có thể kết hôn với
người đàn ông cô yêu hay không.
Khi ông quay trở lại phòng tắm để đánh răng, cán cân công lý
vẫn chưa nghiêng về bên nào.
Ngay sau khi Big Ben đánh chuông báo chín giờ, ông quay trở
lại phòng làm việc và đọc lại các ghi chép của mình với hy vọng
rằng cuối cùng cán cân cũng sẽ nghiêng về bên này hay bên kia,
song nó vẫn cân bằng tuyệt đối. Ông tiếp tục nghiền ngẫm các ghi
chú khi một tiếng gõ cửa nhắc nhở Đại Chưởng ấn rằng cho dù có
hình dung quyền lực của ông lớn đến thế nào, ông vẫn không thể
ngăn được thời gian trôi đi. Ông thở dài, xé ba tờ giấy khỏi tập sổ
ghi chép, đứng dậy, tiếp tục đọc trong khi bước ra khỏi phòng làm
việc và đi xuống hành lang. Khi vào phòng ngủ, ông trông thấy East,
người hầu phòng, đang đứng cạnh chân giường, chờ đợi thực hiện
phần việc buổi sáng.
East bắt đầu bằng việc khéo léo cởi chiếc áo mặc trong nhà
bằng lụa ra trước khi giúp ông chủ mặc lên người một chiếc sơ mi
trắng vừa là xong vẫn còn ẩm. Tiếp theo, một cái cổ cồn hồ bột, rồi
đến một chiếc khăn quàng cổ nhỏ tinh tế có dây buộc. Trong khi Đại
Chưởng ấn kéo cái quần dài đen lên, ông tự nhắc nhở mình đã tăng
thêm vài cân kể từ khi nhậm chức. Tiếp đó, East giúp ông mặc
chiếc áo thụng dài màu đen và vàng trước khi chuyển sự chú ý
sang đầu và bàn chân ông chủ. Một bộ tóc giả che kín gáy được đội
lên đầu ông trước khi ông xỏ chân vào đôi giày có cài khóa. Chỉ sau
khi sợi dây chuyền vàng chức tước từng được ba mươi chín vị Đại
Chưởng ấn trước đó đeo đã nằm trên vai, ông mới từ bộ dạng một
vai quý bà cáu bẳn trên sân khấu kịch câm chuyển thành quan chức
tư pháp có quyền lực lớn nhất ở quốc gia này. Một cái liếc mắt vào
gương, và ông cảm thấy đã sẵn sàng để bước lên sân khấu diễn
vai của mình trong vở diễn đầy kịch tính đang được công diễn. Chỉ
tiếc một điều là ông vẫn chưa biết lời thoại sẽ thế nào.
Việc căn thời gian cho Đại Chưởng ấn đi vào và ra khỏi tòa tháp
Bắc cung điện Westminster hẳn có thể khiến một thượng sĩ nhất
của trung đoàn phải thấy ấn tượng. Vào lúc 9 giờ 40 phút sáng, có
một tiếng gõ cửa và David Bartholomew, thư ký của vị đại thần,
bước vào phòng.
“Chúc buổi sáng tốt lành, thưa ngài,” ông ta mở lời.
“Chúc buổi sáng tốt lành, ông Bartholomew,” Đại Chưởng ấn
chào lại.
“Tôi rất tiếc phải thông báo,” Bartholomew nói, “là Lord Harvey
đã qua đời tối qua, trong một chiếc xe cứu thương trên đường tới
bệnh viện.”
Cả hai người đều biết điều đó không đúng. Lord Harvey – ông
ngoại của Giles và Emma Barrington – đã gục xuống ngay trong
phòng họp, chỉ giây lát trước khi chuông báo giờ bỏ phiếu vang lên.
Tuy thế, họ cùng chấp nhận một quy tắc đã được thừa nhận từ lâu
đời: nếu một thành viên của Hạ viện hay Thượng viện mất trong
phiên họp của Viện, bắt buộc phải thực hiện một cuộc điều tra đầy
đủ về hoàn cảnh dẫn tới cái chết. Để tránh màn kịch vừa chẳng vui
vẻ gì vừa không cần thiết đó, “chết trên đường tới bệnh viện” là
cách diễn đạt được chấp nhận để áp dụng trong những trường hợp
như thế. Phong tục này đã có từ thời Oliver Cromwell⁜, khi các
nghệ sĩ còn được phép đeo kiếm vào phòng họp, và những hành
động gian trá phản phúc là một khả năng nổi bật phải xem xét đến
bất cứ khi nào có một cái chết xảy ra.
Đại Chưởng ấn không khỏi buồn bã trước sự ra đi của Lord
Harvey, một đồng nghiệp mà ông vừa yêu mến vừa ngưỡng mộ.
Ông chỉ ước rằng người thư ký không nhắc làm ông nhớ tới một
trong những thực tế ông đã ghi lại phía dưới tên của Giles
Barrington; cụ thể là Lord Harvey đã không thể bỏ phiếu sau khi ông
ấy bị quỵ xuống, và nếu ông ấy kịp bỏ phiếu, chắc chắn sẽ là cho
Giles Barrington. Điều đó hẳn đã cho phép mọi việc được giải quyết
ổn thỏa một lần dứt khoát, và tối hôm đó ông đã có thể ngủ ngon.
Còn giờ đây, chính ông đang được trông đợi sẽ giải quyết ổn thỏa
vấn đề này một lần dứt khoát.
Phía dưới tên của Harry Clifton, ông đã ghi một thực tế khác.
Sáu tháng trước, khi yêu cầu ban đầu được đệ trình lên Hội đồng tư
pháp, các thành viên đã bỏ phiếu với kết quả 4—3 nghiêng về việc
cho phép Clifton được thừa kế tước vị và, như được viết trong di
chúc, tất cả những gì đi kèm.
Một tiếng gõ cửa thứ hai, và người tùy giá của ông xuất hiện,
mặc bộ đồ kiểu Gilbert và Sullivan nữa, để báo hiệu nghi thức cổ
xưa sắp bắt đầu.
“Chúc buổi sáng tốt lành, thưa ngài.”
“Chúc buổi sáng tốt lành, ông Duncan.”
Đúng khoảnh khắc người tùy giá nâng diềm chiếc áo thụng đen
dài của Đại Chưởng ấn lên, David Bartholomew bước tới mở toang
hai cánh cửa phòng khánh tiết để vị đại thần có thể bắt đầu cuộc
hành trình kéo dài bảy phút tới phòng họp Thượng viện.
Các thành viên quốc hội, người đưa tin có đeo phù hiệu và
những nhân viên làm việc tại quốc hội đang thực hiện công việc
hàng ngày của họ hối hả đứng tránh sang bên khi thấy Đại Chưởng
ấn tới gần, đảm bảo để cuộc hành trình của ông không bị cản trở.
Khi ông đi ngang qua, họ cúi chào thật thấp, không phải trước ông,
mà trước quyền lực ông đại diện. Vị đại thần bước đi theo hành
lang trải thảm đỏ theo cùng nhịp chân như ông vẫn đi mỗi ngày
trong sáu năm qua, để ông bước vào phòng họp cùng thời điểm
tiếng chuông đầu tiên vang lên khi Big Ben điểm chuông mười giờ
sáng.
Vào một ngày bình thường, và hôm nay không phải là một ngày
như thế, bất cứ lúc nào bước vào phòng họp, ông cũng sẽ được
chào đón bởi một nhúm các nghị sĩ lịch thiệp đứng lên từ các băng
ghế đỏ, cúi đầu trước Đại Chưởng ấn và tiếp tục đứng trong khi vị
giám mục trực ban điều hành lễ cầu nguyện buổi sáng, sau đó
những công việc trong ngày có thể bắt đầu.
Nhưng hôm nay thì không, vì từ rất xa trước khi tới phòng họp,
ông đã có thể nghe thấy tiếng rì rầm của những giọng nói đang khe
khẽ trao đổi. Thậm chí cả Đại Chưởng ấn cũng phải ngạc nhiên
trước cảnh tượng chờ đợi mình khi ông bước vào. Các băng ghế đỏ
kín người, đến mức một số nghị sĩ phải di cư đến chỗ các bậc cấp
phía trước ngai chủ tọa, trong khi có những người khác đứng ngoài
lan can của Viện vì không tìm nổi chỗ ngồi. Một dịp duy nhất ông
nhớ Viện từng đông đến thế này là khi Nhà vua đọc Diễn văn Hoàng
gia, trong đó thông báo cho các thành viên của cả hai Viện về
những đạo luật chính phủ ngài đề xuất ban hành trong nhiệm kỳ tiếp
theo của Quốc hội.
Khi Đại Chưởng ấn bước vào phòng họp, các nghị sĩ lập tức
ngừng nói chuyện, đồng loạt đứng dậy và cúi chào trong khi ông
ngồi vào chỗ trước ghế Chủ tịch Thượng viện.
Quan chức tư pháp cao cấp nhất của đất nước từ tốn đưa mắt
nhìn quanh phòng họp và bắt gặp cả nghìn con mắt đang nóng lòng
chờ đợi. Ánh mắt của ông cuối cùng dừng lại ở ba người trẻ tuổi
đang ngồi phía cuối phòng họp, đối diện với ông trên Khu vực dành
cho Khách quan trọng. Giles Barrington, em gái Emma của anh và
Harry Clifton đều mặc đồ tang màu đen để tưởng nhớ tới người ông
rất được yêu quý và, trong trường hợp của Harry, một người bảo
trợ và người bạn thân thiết. Ông thấy thông cảm cho cả ba người, ý
thức được phán quyết ông sắp đưa ra sẽ làm thay đổi toàn bộ cuộc
đời họ. Ông cầu nguyện để sự thay đổi đó sẽ theo hướng tốt đẹp
hơn.
Khi mục sư Peter Watts, giám mục Bristol – thật hợp cảnh làm
sao, Đại Chưởng ấn nghĩ – mở cuốn kinh cầu nguyện của ông ta ra,
các nghị sĩ cùng cúi đầu xuống, và không ngẩng lên cho tới khi ngài
giám mục nói ra những từ “Nhân danh Cha, Con và Thánh Thần.”
Những người có mặt ngồi lại xuống chỗ, chỉ còn lại Đại Chưởng
ấn là người duy nhất còn đứng. Sau khi mọi người đã yên vị, các
nghị sĩ chờ đợi nghe phán quyết của ông.
“Thưa quý vị,” ông bắt đầu, “tôi không thể giả bộ rằng phán
quyết mà quý vị đặt niềm tin vào tôi là một chuyện dễ dàng. Ngược
lại, tôi thú nhận đây là một trong những quyết định khó khăn nhất tôi
từng phải đưa ra trong sự nghiệp phụng sự pháp luật lâu năm của
mình. Nhưng vậy đấy, Thomas More⁜ chính là người đã nhắc nhở
chúng ta rằng khi ta mặc lên người chiếc áo thụng này, ta cần sẵn
sàng đưa ra những quyết định hiếm khi làm vừa lòng tất cả mọi
người. Và quả thực, thưa quý vị, vào ba dịp như thế trong quá khứ,
vị Đại Chưởng ấn, sau khi đưa ra phán quyết của ông ta, đã bị chặt
đầu trong cùng ngày.”
Tiếng cười vang lên phá vỡ sự căng thẳng, nhưng chỉ trong giây
lát.
“Tuy nhiên, bổn phận của tôi vẫn là nhớ rằng,” ông nói sau khi
tiếng cười lắng xuống, “tôi chỉ phải giải thích trước Đấng Toàn
Năng. Với ý thức đó trong tâm trí, thưa quý vị, trong vụ tranh tụng
Barrington chống lại Clifton, người được kế tục Sir Hugo Barrington
với tư cách người thừa kế hợp pháp và được trao cho tước vị của
gia đình, lãnh địa và tất cả những gì đi kèm là…”
Đại Chưởng ấn lại một lần nữa đưa mắt nhìn lên khu vực khách
mời, do dự. Đôi mắt ông dừng lại ở ba con người trẻ trung vô tội
ngồi trên hàng ghế, lúc này đang chăm chú nhìn xuống ông. Ông
cầu nguyện có được sự thông thái của Solomon trước khi nói thêm,
“Sau khi cân nhắc tất cả các sự kiện thực tế, tôi quyết định dành
quyền thừa kế cho… Giles Barrington.”
Âm thanh rì rầm của những giọng nói đang thì thầm lập tức vang
lên trong Viện. Đám nhà báo hối hả rời khỏi khu báo chí để thông
báo phán quyết Đại Chưởng ấn vừa đưa ra tới các biên tập đang
chờ đợi, phán quyết cho thấy nguyên tắc thừa kế thế tập vẫn được
giữ nguyên vẹn và Harry Clifton giờ đây có thể cầu hôn Emma
Barrington để cô trở thành người vợ hợp pháp của anh. Đám đông
trên khu vực khách mời cúi xuống qua lan can để quan sát xem các
nghị sĩ phản ứng thế nào với phán quyết vừa rồi. Nhưng đây không
phải là một trận bóng đá, và ông không phải là trọng tài. Tất cả các
thành viên Thượng viện sẽ phải chấp nhận và tuân thủ phán quyết
của Đại Chưởng ấn mà không được bỏ phiếu biểu quyết hay phủ
quyết. Trong khi đợi cho cơn xúc động lắng xuống, Đại Chưởng ấn
lại một lần nữa ngước mắt nhìn lên ba con người trên lan can chịu
ảnh hưởng lớn nhất từ quyết định của mình để xem họ phản ứng
thế nào. Harry, Emma và Giles vẫn nhìn ông vô cảm, như thể họ
vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa phán quyết của ông.
Sau nhiều tháng trời sống trong bất an, Giles lập tức cảm thấy
nhẹ nhõm, cho dù cái chết của người ông ngoại yêu quý đã xua đi
mọi cảm giác chiến thắng.
Harry chỉ có một ý nghĩ duy nhất trong đầu khi nắm chặt tay
Emma. Giờ anh đã có thể cưới cô gái anh yêu.
Emma vẫn cảm thấy không chắc chắn. Nói cho cùng, Đại
Chưởng ấn đã tạo nên một loạt những vấn đề mới khiến ba người
họ phải bận tâm suy nghĩ, những vấn đề họ không thể gọi ông tới
để giải quyết.
Đại Chưởng ấn mở cặp tài liệu có trang trí tua vàng của mình ra
và nhìn qua nội dung chương trình nghị sự trong ngày. Một cuộc
tranh luận về Chương trình Sức khỏe Quốc gia đang được đề xuất
ở mục thứ hai. Một vài nghị sĩ lặng lẽ rời phòng họp, vì công việc đã
trở lại như thường nhật.
Đại Chưởng ấn sẽ không bao giờ thú nhận với bất cứ ai, thậm
chí cả người tâm giao gần gũi nhất, việc ông đã thay đổi quyết định
vào phút cuối cùng.
Harry Clifton
và
Emma Barrington
1945 – 1951
1
“V khiến hai con người này không thể được kết hợp với nhau
ậy nên, nếu ai đó có thể đưa ra bất cứ lý do chính đáng nào
một cách hợp pháp trong mối ràng buộc thiêng liêng của hôn nhân,
người ấy hãy nói ra ngay lúc này, hoặc giữ im lặng mãi mãi về sau.”
Harry Clifton sẽ không bao giờ quên được lần đầu tiên anh nghe
những lời đó, cũng như chỉ vài khoảnh khắc sau đó cả cuộc đời anh
bị đảo lộn hoàn toàn. Jack Già, người cũng giống như George
Washington không bao giờ có thể nói dối, đã tiết lộ trong một cuộc
gặp vội vã trong phòng thay áo lễ rằng rất có thể Emma Barrington,
cô gái Harry tôn thờ, người sắp sửa trở thành vợ anh, là em gái
cùng cha khác mẹ với anh.
Và cơn ác mộng đã biến thành hiện thực khi mẹ Harry thừa
nhận rằng có một lần, một lần duy nhất, bà từng quan hệ tình dục
với bố Emma, Hugo Barrington. Do đó, có khả năng anh và Emma
là con của cùng một người cha.
Vào thời điểm có quan hệ với Hugo Barrington, mẹ Harry đang
hẹn hò cùng Arthur Clifton, một công nhân bốc vác làm việc tại bến
tàu của công ty Barrington. Bất chấp thực tế Maisie đã kết hôn với
Arthur không lâu sau đó, vị giáo sĩ từ chối làm phép cưới cho Harry
và Emma khi vẫn còn khả năng bỏ ngỏ rằng việc đó có thể vi phạm
điều luật cổ xưa của nhà thờ về quan hệ huyết thống.
Chỉ giây lát sau, Hugo, bố Emma, đã lẻn ra đằng sau nhà thờ,
giống một kẻ đào ngũ hèn nhát chạy trốn khỏi chiến trường. Emma
và mẹ cô tới Scotland, trong khi Harry, với tâm hồn tan nát, ở lại
trường tại Oxford, không biết phải làm gì tiếp theo. Adolf Hitler đã
đưa ra quyết định đó giúp chàng trai.
Vài ngày sau, Harry rời trường đại học và đổi chiếc áo thụng học
đường lấy bộ đồ của một thủy thủ thường. Nhưng chỉ sau chưa đầy
hai tuần anh phục vụ trên đại dương, một quả ngư lôi Đức đã bắn
chìm con tàu của anh, và cái tên Harry Clifton xuất hiện trong danh
sách những người được thông báo mất tích ngoài biển.
“Con có đồng ý lấy người phụ nữ này làm vợ, có đồng ý sẽ luôn
ở bên cô ấy chừng nào cả hai con còn sống hay không?”
“Con đồng ý.”
Mãi tới tận khi chiến tranh kết thúc, khi Harry từ chiến trường trở
về mang theo vết thương của vinh quang, anh mới khám phá ra
Emma đã sinh một cậu con trai của hai người, Sebastian Arthur
Clifton. Nhưng phải tới khi hoàn toàn bình phục, Harry mới biết
Hugo Barrington đã bị giết trong một hoàn cảnh thật khủng khiếp,
khiến gia đình Barrington gặp thêm nhiều rắc rối nữa, cũng kinh
khủng với Harry không kém gì việc không được phép kết hôn với cô
gái anh yêu.
Harry chưa bao giờ nghĩ việc anh lớn tuổi hơn vài tuần so với
Giles Barrington, anh trai Emma và cũng là người bạn thân nhất của
anh, là chuyện gì nghiêm trọng cho tới khi được biết anh có thể là
người đứng đầu trong danh sách thừa kế tước vị gia đình, lãnh địa
rộng lớn của nhà Barrington, rất nhiều tài sản sở hữu cũng như,
theo như từ ngữ trong bản di chúc, tất cả những gì đi kèm. Harry
nhanh chóng tỏ rõ anh không có chút hứng thú nào với việc thừa kế
gia sản nhà Barrington, và còn hơn cả sẵn sàng để từ chối bất cứ
quyền lợi bẩm sinh nào có thể được coi là của anh để nhường lại
cho Giles. Vị Chánh đại thần Nghi lễ dường như sẵn sàng thuận
theo cách thu xếp này, và tất cả đáng ra đã có thể xuôi chèo mát
mái nếu như Lord Preston, một nghị sĩ đối lập Công đảng, không
đích thân đứng ra bảo vệ tư cách thừa kế của Harry mà thậm chí
chẳng buồn hỏi ý kiến anh.
“Đó là một vấn đề mang tính nguyên tắc,” Lord Preston giải thích
với bất cứ ký giả Nghị viện nào đặt câu hỏi cho ông ta.
“Con có đồng ý nhận người đàn ông này làm chồng, đồng ý sống
bên nhau theo giới luật của Chúa trong mối ràng buộc thiêng liêng
của hôn nhân không?”
“Con đồng ý.”
Harry và Giles vẫn là những người bạn không thể tách rời trong
suốt quãng thời gian ấy, bất chấp việc một cách chính thức họ ở hai
bên tranh chấp với nhau tại tòa án cao nhất quốc gia, cũng như trên
trang nhất báo chí cả nước.
Harry và Giles hẳn sẽ rất vui mừng trước quyết định của Đại
Chưởng ấn nếu như Lord Harvey, ông ngoại Emma và Giles, có mặt
trên băng ghế hàng đầu để nghe lời phán quyết, nhưng ông đã
không bao giờ biết được thắng lợi của mình. Kết cục của vụ việc
vẫn làm cả nước bị chia rẽ, trong khi hai gia đình bị để mặc cho việc
thu xếp tàn cục.
Một hệ quả nữa từ phán quyết của Đại Chưởng ấn, như báo giới
đã nhanh chóng chỉ ra cho các độc giả đầy háo hức của họ, là việc
tòa án tối cao của đất nước công nhận Harry và Emma không có
chung huyết thống, do đó anh được tự do cầu hôn cô, để cô trở
thành người vợ được kết hôn hợp pháp của anh.
“Với chiếc nhẫn này tôi cưới người, với thân thể của mình tôi tôn
thờ người, và mọi của cải trần thế của mình tôi trao cho người.”
Dẫu vậy, cả Harry và Emma đều biết một quyết định do con
người đưa ra không thể chứng minh nghi ngờ có căn cứ rằng Hugo
Barrington là bố Harry, vì thế cả hai, đều là những tín đồ Ki tô ngoan
đạo, lo sợ rằng có thể họ đang vi phạm giới luật của Chúa.
Tình yêu họ dành cho nhau không hề phai nhạt bất chấp tất cả
những gì họ phải trải qua. Nếu có gì thay đổi, thì đó là nó đã trở nên
mạnh mẽ hơn, và với sự cổ vũ của Elizabeth, mẹ cô gái, cùng lời
ban phước của Maisie, mẹ Harry, Emma chấp nhận đề nghị kết hôn
của Harry. Cô chỉ thấy buồn vì cả hai người bà của mình đều đã qua
đời.
Hôn lễ không diễn ra tại Oxford như dự định ban đầu, với tất cả
sự phô trương và những nghi thức long trọng cho một đám cưới tại
trường đại học, cũng như sự nhòm ngó không thể tránh khỏi của
giới truyền thông. Nó chỉ là một lễ đăng ký kết hôn đơn giản trong
văn phòng tại Bristol, với gia đình và vài người bạn thân tham dự.
Có lẽ quyết định đáng buồn nhất mà Harry và Emma phải miễn
cưỡng nhất trí là việc Sebastian Arthur Clifton sẽ là đứa con duy
nhất của hai người.
2
S tới Scotland để trải qua kỳ trăng mật tại lâu đài Mulgelrie, nơi này
au khi gửi Sebastian cho Elizabeth trông nom, Harry và Emma
được truyền lại từ tổ tiên của Lord Harvey và phu nhân Harvey, ông
bà ngoại quá cố của Emma.
Tòa lâu đài làm sống dậy bao hồi ức hạnh phúc về quãng thời
gian họ trải qua tại đây ngay trước khi Harry tới Oxford. Hai người
cùng đi dạo cả ngày trên các ngọn đồi, hiếm khi quay về lâu đài
trước khi mặt trời lặn sau ngọn núi cao nhất. Sau bữa tối, người đầu
bếp nhớ lại rằng cậu Clifton thích được phục vụ ba lần món canh
hầm, hai vợ chồng ngồi bên lò sưởi cháy bùng bùng và đọc Evelyn
Waugh, Graham Greene và tác giả ưa thích của Harry, P. G.
Wodehouse.
Sau nửa tháng, quãng thời gian mà đôi vợ chồng trẻ gặp gỡ
những bầy gia súc miền Highland còn nhiều hơn là con người, họ
miễn cưỡng lên đường trở lại Bristol. Hai người về tới Manor
House, trông đợi một cuộc sống gia đình yên bình, song thứ chờ
đợi họ lại không phải là điều đó.
Elizabeth thú nhận bà không thể đợi lâu hơn được nữa để giao
lại Sebastian; những màn khóc lóc trước khi lên giường đi ngủ xuất
hiện quá nhiều lần, bà nói với hai con khi con mèo Xiêm của bà,
Cleopatra, trèo lên lòng bà chủ của nó và lập tức ngủ ngon lành.
“Chân thành mà nói, các con không về sớm giây nào cả,” bà thêm.
“Trong hai tuần vừa qua mẹ chưa từng một lần giải xong ô chữ trên
The Times.”
Harry cảm ơn mẹ vợ vì sự thấu hiểu của bà, rồi anh và Emma
mang cậu con trai năm tuổi hiếu động kinh khủng của họ về
Barrington Hall.
N
Trước khi Harry và Emma kết hôn, Giles một mực quả quyết rằng vì
anh dành phần lớn thời gian của mình tại London thực thi chức
trách của một dân biểu Công đảng tại Quốc hội, nên hai người cứ
thoải mái coi Barrington Hall như nhà mình. Với thư viện mười
nghìn cuốn sách, một khu tư viên rộng mênh mông và một tàu ngựa
phong phú, tòa dinh thự hoàn toàn lý tưởng với họ. Harry có thể viết
những cuốn tiểu thuyết trinh thám về William Warwick trong không
khí yên bình, trong khi Emma cưỡi ngựa đi dạo hàng ngày và
Sebastian chơi ngoài khoảng sân rộng, thường xuyên mang những
con vật lạ lùng về nhà cùng uống trà.
Giles thường lái xe về Bristol vào các buổi chiều thứ Sáu, vừa
kịp để ăn tối cùng họ. Đến sáng thứ Bảy, anh sẽ dành thời gian cho
một cuộc tiếp cử tri trước khi ghé vào câu lạc bộ công nhân bến tàu
để uống một, hai vại bia với người đại diện của anh, Griff Haskins.
Đến chiều, ngài dân biểu và Griff sẽ tham gia cùng mười ngàn
người trong số cử tri của anh tại sân vận động Eastville để theo dõi
đội Bristol Rovers⁜ thua trận nhiều hơn là thắng. Giles không bao
giờ dám thừa nhận, thậm chí cả với người đại diện của mình, là anh
thà dành các chiều thứ Bảy đi xem đội Bristol chơi rugby còn hơn.
Song nếu anh làm vậy, Griff hẳn sẽ nhắc nhở rằng đám đông có
mặt tại sân Memorial Ground hiếm khi đông hơn hai nghìn người,
và phần lớn họ bầu cho đảng Bảo thủ.
Vào các sáng Chủ nhật, Giles lại có mặt tại nhà thờ St. Mary
Redcliffe để quỳ gối cầu nguyện bên cạnh Harry và Emma. Harry
đoán với Giles đây chỉ đơn thuần là một nghĩa vụ với cử tri khác, vì
ông bạn này luôn tìm bất cứ cớ nào để tránh xa nhà nguyện khi còn
ở trường. Nhưng không ai có thể phủ nhận rằng Giles đang nhanh
chóng đạt được tiếng tăm là một thành viên tận tâm, mẫn cán của
Quốc hội.
Thế rồi đột nhiên, không lời giải thích, những cuộc về thăm vào
dịp cuối tuần của Giles trở nên ngày một thưa thớt. Bất cứ khi nào
Emma nhắc tới chủ đề này với anh trai, câu trả lời lại là về những
trách nhiệm tại Quốc hội. Harry không hề cảm thấy bị thuyết phục,
và hy vọng việc vắng mặt kéo dài ở khu vực bầu cử của ông anh vợ
sẽ không làm xói mòn đa số mong manh ngài dân biểu đang có
trong kỳ bầu cử tới.
Một tối thứ Sáu, hai người cuối cùng cũng khám phá ra lý do
thực sự khiến Giles bận bịu đến thế trong vài tháng qua.
Anh đã gọi điện báo trước cho Emma là sẽ về Bristol dịp cuối
tuần, và sẽ về đúng giờ để ăn tối hôm thứ Sáu. Điều ông anh không
nói với cô em là sẽ có một vị khách nữa cùng tham gia.
Emma thường luôn có cảm tình với các cô bạn gái của Giles, họ
luôn hấp dẫn, hơi đãng trí một chút, và tất cả, không có ngoại lệ,
đều tôn thờ anh trai cô, cho dù phần lớn những người đẹp này
không trụ lại đủ lâu để cô có thể hiểu rõ hơn về họ. Song lần này thì
khác.
Tối thứ Sáu đó, khi Giles giới thiệu Virginia, Emma thực sự bối
rối không hiểu anh cô thấy gì ở người phụ nữ này. Emma thừa nhận
cô này rất đẹp và có gia thế danh tiếng. Trên thực tế, Virginia đã
hơn một lần nhắc nhở họ rằng cô ta từng là Quý cô của năm (vào
năm 1934), cũng như nhắc đi nhắc lại ba lần chuyện cô ta là con gái
của bá tước Fenwick, thậm chí từ trước khi họ kịp ngồi vào bàn
dùng bữa tối.
Emma hẳn đã gạt những chuyện này sang một bên, coi đó chỉ là
do vị khách đang hồi hộp, nếu Virginia không chê bai đồ ăn và thì
thầm với Giles suốt bữa tối, với âm lượng chắc hẳn cô ta phải biết
những người khác đều sẽ nghe thấy, về chuyện thật khó lòng tìm
được người làm tử tế ở Gloucestershire. Trước sự ngạc nhiên của
Emma, Giles chỉ mỉm cười với những lời nhận xét đó, không hề tỏ
ra bất đồng với cô ta dù chỉ một lần. Emma sắp sửa nói ra một điều
mà cô biết sau đó mình sẽ phải hối tiếc thì Virginia tuyên bố cô ta đã
kiệt sức sau một ngày dài và muốn đi nghỉ.
Sau khi vị khách đã đứng lên rời khỏi bàn ăn, với Giles theo sát
chỉ cách một bước chân, Emma vào phòng khách, rót cho mình một
cốc whisky lớn và ngồi xuống cái ghế gần nhất.
“Có Chúa mới biết mẹ em sẽ thấy thế nào về Quý cô Virginia.”
Harry mỉm cười. “Việc Elizabeth nghĩ gì cũng chẳng quan trọng,
vì anh có cảm giác Virginia sẽ trụ lại cũng lâu như phần lớn những
cô bạn gái khác của Giles.”
“Em không chắc vậy đâu,” Emma nói. “Nhưng điều làm em khó
hiểu nhất là tại sao cô ta lại quan tâm đến Giles, vì rõ ràng cô ta
không hề yêu anh ấy.”
N
Khi Giles và Virginia lái xe trở về London sau bữa trưa vào buổi
chiều Chủ nhật, Emma nhanh chóng quên cô con gái bá tước
Fenwick vì cô cần phải giải quyết một vấn đề khẩn cấp hơn rất
nhiều. Lại thêm một cô bảo mẫu nữa xin thôi việc, tuyên bố giọt
nước cuối cùng đã tràn ly khi cô này tìm thấy một con nhím trên
giường mình. Harry ít nhiều cảm thấy thông cảm với người phụ nữ
tội nghiệp.
“Việc thằng bé là con một chẳng giúp tình hình khá hơn.” Emma
nói sau khi cuối cùng cô cũng đã ru ngủ được cậu con trai tối hôm
đó. “Chẳng thể vui được khi không có ai để chơi cùng.”
“Việc đó chưa bao giờ làm anh lo lắng.” Harry nói, vẫn không
ngước mắt lên khỏi cuốn sách.
“Mẹ anh đã kể cho em biết anh cũng chẳng vừa trước khi anh
tới trường St. Bede, và dù thế nào đi nữa, ở vào tuổi của nó, anh
dành nhiều thời gian ngoài bến tàu hơn ở nhà.”
“Được thôi, cũng chẳng còn mấy nữa trước khi thằng bé bắt đầu
học tại St. Bede.”
“Và anh trông đợi em làm gì cho tới lúc đó? Đưa con chúng ta ra
bến tàu mỗi sáng à?”
“Một ý tưởng không tồi.”
“Nghiêm túc đi nào, anh yêu. Nếu không nhờ Jack Già, bây giờ
có khi anh vẫn đang ở ngoài đó.”
“Đúng thế,” Harry nói trong khi nâng ly lên tưởng nhớ con người
vĩ đại ấy. “Nhưng chúng ta có thể làm gì trong chuyện này?”
Emma mất nhiều thời gian để trả lời đến mức Harry tự hỏi liệu
có phải cô đã ngủ. “Có lẽ đã đến lúc chúng mình cần có một đứa trẻ
nữa.”
Harry kinh ngạc gập cuốn sách lại và chăm chú nhìn vợ, không
dám chắc anh đã nghe chính xác những gì cô nói. “Nhưng anh
tưởng chúng mình đã nhất trí…”
“Đúng thế. Và em vẫn không hề đổi ý, nhưng chẳng có lý do nào
ngăn cản chúng ta nghĩ đến việc nhận con nuôi cả.”
“Điều gì đã làm em nghĩ đến chuyện đó vậy, em yêu?”
“Em không thể ngừng nghĩ tới cô bé được tìm thấy trong phòng
làm việc của bố vào đêm ông chết.” – Emma không bao giờ có thể
ép mình nói ra hai từ “bị giết” – “và khả năng cô bé đó có thể là con
của ông.”
“Nhưng chẳng có bằng chứng nào về chuyện đó cả. Và dù thế đi
nữa, anh không biết làm thế nào em có thể tìm ra cô bé sau chừng
ấy thời gian.”
“Em đang nghĩ tới việc tham khảo một nhà văn viết truyện trinh
thám danh tiếng để tìm lời khuyên.”
Harry cẩn thận suy nghĩ trước khi trả lời. “William Warwick rất có
khả năng sẽ đưa ra lời khuyên rằng em nên thử liên hệ với Derek
Mitchell.”
“Nhưng chắc anh không quên Mitchell từng làm việc cho bố em,
và không hẳn là quan tâm đến lợi ích của chúng ta.”
“Đúng thế,” Harry nói, “và đó chính xác là lý do anh sẽ tìm kiếm
lời khuyên của ông ta. Nói cho cùng, ông ta là người duy nhất biết
nội tình câu chuyện.”
N
Họ nhất trí sẽ gặp nhau ở khách sạn Grand. Emma tới sớm và chọn
một chỗ ngồi trong góc sảnh, nơi họ không thể bị nghe lén. Trong
lúc chờ, cô soát lại những câu dự định sẽ hỏi người thám tử.
Ông Mitchell bước vào sảnh khi đồng hồ đổ chuông bốn giờ.
Cho dù ông ta đã lên cân ít nhiều kể từ lần cuối cô gặp, và mái tóc
cũ...
 





